PGS.TS. Hà Minh Hồng: Hai thời của một khoa đường Sử học

HAI THỜI CỦA MỘT KHOA ĐƯỜNG SỬ HỌC

Hà Minh Hồng

Giảng đường khoa học lịch sử không phải duy nhất có ở Văn khoa xưa hay Khoa học xã hội và Nhân văn nay (bởi Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh còn có những đại học khác cũng có giảng đường khoa sử); nhưng bấy nay mọi người vẫn coi Sử học thời Văn khoa xưa và thời Nhân văn nay, là “thánh đường” của Sử học ở phía Nam. Nhìn lại hai thời, thấy giật mình về “sứ mệnh” của khoa đường Sử học.
Từ khóa: Văn khoa, Sử học, Sài Gòn, TP.HCM
1. Luận về hai thời của sử học
Lịch sử Việt Nam hiện đại từ 1945 đến nay, nếu lấy mốc ngày 30/4/1975 đặt vào những dòng thời gian khác nhau, sẽ cho thấy những tiến trình lịch sử khác nhau được phân chia khá rõ nét. Chẳng hạn đặt vào lịch sử kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đương đại, trước 30/4/1975 liên tục kháng chiến trường kỳ, đất nước bị chia cắt và phải giải quyết một cuộc đụng đầu lịch sử – sau 30/4/1975 đất nước thống nhất, vượt qua khủng hoảng và đi vào lộ trình đổi mới, phát triển, thích ứng với hội nhập quốc tế. Hoặc đặt vào lịch sử văn hóa-giáo dục-khoa học Việt Nam đương đại, trước 30/4/1975 có nhiều loại hình tương phản cùng tồn tại với những bản chất, mục đích, chiều hướng phát triển khác nhau – sau 30/4/1975 đã chuyển biến nhanh theo một hệ thống chung của một nền thống nhất quốc gia ngày càng được củng cố phát triển.
Theo mô thức đó, khi đặt vào lịch sử sử học Việt Nam đương đại cũng thấy rõ sự chia đôi hai thời: Một thời từ đó trở về trước (1945-1975) sử học trên hai miền Nam Bắc có nhiều xu hướng phát triển – tạm gọi là sử học thời chiến; một thời từ đó về sau (1975-nay), sử học trên cả nước thống nhất có một định hướng chung là sử học mácxít – tạm gọi là sử học thời bình.
Thời chiến – Đó là thực tế Việt Nam đương đại từ sau cách mạng tháng Tám phải vật lộn với 30 năm chiến tranh chống xâm lược, sau đó còn nhiều năm chiến tranh bảo vệ biên giới và chủ quyền; chủ nghĩa thực dân cũ và mới cùng nhiều thế lực thù địch tác động mạnh mẽ nhiều mặt vào quá trình xây dựng, bảo vệ nền dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam mới.
Sử học mác xít hình thành và phát triển trong điều kiện kháng chiến kiến quốc, cũng như trong điều kiện đất nước bị chia cắt, đã phải đấu tranh gay gắt với nhiều quan điểm sử học phi mác xít. Nghiên cứu và giảng dạy sử học mác xít được thực hiện ở các đại học phía Bắc, chủ yếu là Đại học Văn khoa Hà Nội (những năm 1945-1954) và Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội (những năm 1955-1975). Ngoài ra có Viện Sử học ở Hà Nội là cơ quan chuyên trách nghiên cứu sử học và một số trường đại học, cao đẳng sư phạm cũng có đào tạo về sử học; các nhà khoa học trong Viện Sử học và cán bộ giảng dạy lịch sửở các trường đại học, cao đẳng đều cùng hệ thống nghiên cứu giảng dạy, truyền bá sử học mác xít, vậy nên sử học mác xít thời chiến phát triển mạnh, chiếm lĩnh ưu thế trên tất cả các lĩnh vực sử học, làm cơ sở cho việc phổ biến và phát triển ra cả nước thống nhất từ sau năm 1975 đến nay.
Trong khi đó ở phía Nam những năm trước 1950 không có trường đại học hay viện nghiên cứu nào chuyên trách ngành sử hay có đào tạo nghiên cứu sử học. Đến khi Viện đại học Đông Dương được tái lập dưới cái tên Viện Đại học hỗn hợp Việt-Pháp (1949) và có chi nhánh ở Sài Gòn (1951) vẫn không có cơ sở để một khoa sử (hay Ban sử, Bộ môn sử, tổ sử) nào được xuất hiện trong bất cứ một đại học, cao đẳng nào ở phía Nam. Thậm chí từ đầu năm 1954 khi toàn bộ Viện đại học hỗn hợp Việt-Pháp ở Hà Nội vào trọn bộở Sài Gòn và đổi thành Viện Đại học Quốc gia Việt Nam (cuối năm 1955), đến khi trường Đại học Văn khoa Việt Nam mới thành lập (theo Nghị định 66/GD-NĐ ngày 6/12/1955), tất cả vẫn trống vắng một khoa học lịch sử. Cho đến năm học 1957-1958 duy nhất ở Đại học Văn khoa Sài Gòn bắt đầu mở chứng chỉ cử nhân Sử Việt Nam và Đông Nam Á (1/16 chứng chỉ của Đại học Văn khoa Sài Gòn lúc bấy giờ). Từ năm học 1961-1962 Đại học Văn khoa Sài Gòn có thêm hai chứng chỉ Quốc Sử và Thế giới Sử; nhưng văn bằng đào tạo vẫn chung hai ngành Sử học và Địa lý là Cử nhân giáo khoa Sử-Địa. Từ năm 1969-1970, tách thành hai Ban Sử và Ban Địa riêng, ngoài Chứng chỉ Đại cương chung cho Sinh viên hai Ban, muốn thành Cử nhân giáo khoa Sử phải có hai chứng chỉ Sử và một chứng chỉ Địa; Cử nhân giáo khoa Địa thì phải có hai chứng chỉ Địa một chứng chỉ Sử.
Từ đó đến khi kết thúc thời chiến (1975), giảng dạy và nghiên cứu khoa học lịch sửởSài Gòn nói riêng và miền Nam Việt Nam nói chung hiện hữu chủ yếu ở Đại học Văn khoa Sài Gòn và Đại học Sư phạm Sài Gòn; ngoài ra có một số đại học khác như Đại học Văn khoa Huế (từ 1959), Đại học Đà Lạt (từ 1958), Đại học Cần Thơ (từ 1966) cũng có nhiều môn học sử-địa đem vào giảng dạy nhưng chỉ là môn học mà thôi. Hình thành và phát triển muộn màng trong điều kiện chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới, sử học nói chung và nghiên cứu giảng dạy lịch sửở đại học Văn khoa Sài Gòn, cũng như ở Đại học Sư phạm, trong khuôn khổ xã hội miền Nam phải chịu nhiều ảnh hưởng của sử học phương Tây, song cũng chịu nhiều tác động của cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc vì hòa bình và thống nhất đất nước.
Từ sau ngày 30/4/1975 đến nay, chuyển sang thời bình với bối cảnh và điều kiện lịch sử của đất nước liền một dải non sông, những gì còn lại của hệ thống nghiên cứu và giảng dạy lịch sửở đại học Văn khoa Sài Gòn cũng như các đại học khác ở miền Nam Việt Nam, đều được nhanh chóng chuyển sang hệ thống mới. Sử học thời bình trên phạm vi cả nước đã hợp nhất lại trên cơ sở nền thống nhất quốc gia, hệ thống giáo dục đào tạo quy về một mối; đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu sử học có chung một cơ sở học thuyết và phương pháp luận, yêu cầu, nhiệm vụ, chức năng của sử học mác xít.
2. Vài nét về khoa đường sử học ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Thời chiến ở Việt Nam đương đại kéo dài hàng chục năm, một bên là có sự tiếp nối “Lớp cha trước, lớp con sau - Đã thành đồng chí chung câu quân hành”, nhưng một bên lại có cả éo le và tương tàn do thời cuộc tác động vào nhiều gia cảnh. Theo đó, những thế hệ thời chiến ở những vùng khác nhau có chung những cố gắng nỗ lực cho khoa học lịch sử.
Ban sử của Đại học Văn Khoa Sài Gòn và Ban Sử của các trường Đại học sư phạm Sài Gòn, Đại học Huế, Đại học Cần Thơ… cũng có những cung cách tổ chức quản lý khác nhau. Thời đó, Ban Sử nói riêng và Đại học Văn khoa Sài Gòn nói chung là nơi “có tầm quan trọng đặc biệt. Chính phân khoa này thể hiện được các sắc thái thuần túy dân tộc. (…). Chỉ có Văn khoa mới soi sáng được truyền thống dân tộc, mới duy trì và tiếp tục vun xới bồi đắp cho nền văn hóa dân tộc được vững bền và ngày thêm phong phú. Nó giúp ta không thể quên được nguồn gốc của chính dân tộc mình, biết được tổ tiên ta đã khổ công xây dựng quốc gia như thế nào, đất nước ta có những gì quý báu đặt biệt, biết được văn hóa dân tộc ta có những gì… học Văn khoa bạn cần có một tinh thần phóng khoáng cởi mở để sẵn sàng đón nhận các tư tưởng mới lạ” .
Ban Sử có 2 chuyên ngành chủ yếu là Quốc sử và Thế giới sử; đến năm học 1973-1974 đổi Quốc sử thành Việt sử và chia Thế giới sử thành Lịch sử thế giới hiện đại, Lịch sử thế giới thời cổ).
Đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy sử ở Đại học Văn khoa Sài Gòn đồng thời giảng dạy ở Đại học Sư phạm Sài Gòn có: Nguyễn Thế Anh, Phạm Cao Dương, Châu Long, Quách Thanh Tâm, Nguyễn Phương, Phan Khoang, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Khắc Kham, Lương Kim Định, Nguyễn thị Kim Anh, Lê Trọng Anh, Mile Bourriot, Nguyễn Ngọc Cư, Tchen Chin Ho, Trương Bửu Lâm, Trần Trung Lương, Lê Trọng Phỏng, Nghiêm Thẩm, Vương Hồng Sển, Hoàng Ngọc Thành, Trần Thị Khánh Vân; phụ trách Thư viện Ban Sử có Trần Anh Tuấn…
Các thế hệ thời chiến giảng dạy và nghiên cứu sử học ở Sài Gòn đã có những hướng nghiên cứu lịch sử mới và tích cực, thể hiện trong những ấn phẩm sử học lan truyền ở miền Nam và đã tạo ra những cuộc tranh luận khá sôi nổi về quan điểm sử học giữa hai nền sử học ở hai miền Nam-Bắc lúc bấy giờ.
Thời bình có nhiều diễn biến tình hình đan xen vào nhau: những cuộc chiến tranh biên giới, những tác động từ khủng hoảng kinh tế-xã hội, đổi mới xây dựng và phát triển đất nước, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa…
Từ khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đến khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, một chặng đường dài xây dựng, phát triển chương trình đào tạo ngành sử và đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu giảng dạy lịch sử. Mục tiêu là “trang bị kiến thức cơ bản về Khoa học xã hội và Nhân văn, kiến thức chuyên sâu về lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và các môn học bổ trợ khác; đào tạo cán bộ chuyên môn về các ngành Lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, lịch sử Đảng, dân tộc học, khảo cổ học. Tốt nghiệp khoa Sử có thể làm các công tác Nghiên cứu và giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học, làm việc trong các Trung tâm - Viện nghiên cứu, cơ quan khoa học chuyên ngành thuộc Khoa học lịch sử nói riêng, Khoa học xã hội và Nhân văn nói chung, làm việc trong các cơ quan trung ương và địa phương có hoạt động liên quan đến các chuyên ngành sử học (như ngoại giao, nghiên cứu tổng hợp, tuyên giáo, bảo tàng, báo chí, phát thanh, truyền hình, du lịch, an ninh...). Người có bằng cử nhân khoa học các ngành thuộc Khoa Sử có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo sau Đại học (Cao học, Nghiên cứu sinh) chuyên ngành tương ứng” .
Trong khoảng hơn 10 năm đầu (1975-1989), chương trình đào tạo ở khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh về cơ bản vẫn bê khung từ khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội; đội ngũ được tập hợp từ nhiều nguồn về, nhưng chủ yếu vẫn là từ Hà Nội vào thỉnh giảng. Khoa Lịch sử có nhiều ngành, trong đó các ngành truyền thống là Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới, Dân tộc học và Khảo cổ học .
Trong gần 30 năm (1990 – Nay), định hình và phát triển đông đảo một đội ngũ những người nghiên cứu giảng dạy sửở phía Nam. Cụ thể là:
Giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Việt Nam có: PGS Hồ Sỹ Khoách,Nguyễn Khắc Thuần,PGS.TS. Võ Văn Sen,PGS.TS. Hà Minh Hồng,PGS.TS. Trần Thu Lương,PGS.TS. Trần Thị Mai,TS. Lê Hữu Phước,PGS.TS. Trần Thuận,PGS.TS. Trần Nam Tiến,TS.Phạm Thị Ngọc Thu,TS.Huỳnh Đức Thiện,TS. Lưu Văn Quyết,TS. Nguyễn Thị Ánh Nguyệt…
Giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử thế giới có: PGS.Châu Long, PGS.TS. Lê Văn Quang,PGS. Đỗ Văn Nhung,Võ Mai Bạch Tuyết,PGS.TS. Nguyễn Văn Lịch,PGS.TS. Nguyễn Ngọc Dung,PGS.TS. Hoàng Văn Việt,PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực,TS.Đỗ Thị Hạnh,TS.Đào Minh Hồng,TS. Phan Văn Cả,Quyền Hồng, Trần Tịnh Đức...
Giảng dạy và nghiên cứu về dân tộc học có: PGS. Vương Hoàng Tuyên,GS.TS. Ngô Văn Lệ,PGS.TS. Thành Phần,PGS.TS. Nguyễn Văn Tiệp,TS. Nguyễn Khắc Cảnh,Lê Thị Mỹ Dung…
Giảng dạy và nghiên cứu khảo cổ học có: PGS. Lê Xuân Diệm,PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, TS. Nguyễn Thị Hậu,PGS.TS. Đặng Văn Thắng,TS. Phí Ngọc Tuyến,Lê Công Tâm…
Các thế hệ thời bình giảng dạy và nghiên cứu sử học ở thành phố Hồ Chí Minh mang đến diện mạo mới, nội dung và tính chất mới của Sử học mác xít, góp phần phát triển và đóng góp những thành tựu mới, nhận thức mới của khoa học lịch sử nước nhà.
3. Những thống kê từ các khoa đường sử học
a). Thời Văn khoa Sài Gòn:
Từ năm 1961-1962 Ban Sử-Địa có 6 chứng chỉ gồm Lịch sử thế giới (14 giờ), Lịch sử Việt Nam (15 giờ) Nhân chủng học (14 giờ), Địa lý đại cương (10 giờ, Địa lý chuyên môn (11 giờ), Địa lý địa phương Việt Nam và thế giới (11 giờ). Từ năm 1969-1970, Sử-Địa tách riêng thành ban độc lập và thành lập thêm Ban Nhân văn. Các chứng chỉ của Ban sử gồm Phương pháp Sử, Quốc sử/Việt sử, Thế giới sử cổ đại, Thế giới sử hiện đại, Sử Việt Nam và Đông Nam Á, Sử Việt Nam và Trung Hoa .
Việc giảng dạy và nghiên cứu sử học ở Đại học Văn khoa đã có nhiều ấn phẩm, bài giảng được hoàn thành; một số bài giảng in phát hành thành sử phẩm trong thời kỳ này như:
 Kỷ niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam kỳ (Trương Bá Cần, Phạm Cao Dương, Lê văn Hảo, Nguyễn Khắc Ngữ, Trần Trọng Phủ, Lý Chánh Trung, 1967)
 Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (Nguyễn Thế Anh, 1968)
 Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ (Nguyễn Thế Anh, 1970),
 Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 (Nguyễn Thế Anh, 1973),
 Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 (Tạ chí Đại Trường, 1964)…
Đó là các công trình nghiên cứu công phu, nguồn sử liệu được xử lý cẩn thận, cách tiếp cận về lịch sử Việt Nam của mỗi người đều mang dấu ấn phong cách sử học cá nhân khá mới mẻ.
Tập san Sử Địa (từ số 1 năm 1966 đến số 29 năm 1975) do Nguyễn Nhã làm chủ nhiệm, Nhà sách Khai trí bảo trợ, có Ban chủ biên gồm các nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở Đại học Văn khoa Sài Gòn và Đại học Sư phạm Sài Gòn biên tập như: Nguyễn Thế Anh, Bửu Cầm, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Phạm Cao Dương, Quách Thanh Tâm, Trần Anh Tuấn, Tạ Chí Đại Trường, Đặng Phương Nghi... Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cộng tác như Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Hảo, Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Đăng Thục, Chen Hing Ho (Trần Kinh Hòa), Nguyễn Đăng Thục, Bửu Kế, Lê Thọ Xuân, Thái Văn Kiểm, Hồ Hữu Tường, Nghiêm Thẩm, Bùi Quang Tung, Nguyễn Bạt Tụy…
Đặc biệt Tập san Sử Địa ra những số đặc khảo khá hay về nhiều vấn đề lịch sử như: Đặc khảo về Trương Công Định (số 3), Đặc khảo về Phong tục Tết Việt Nam và các lân bang (số 5), Đặc khảo về Phan Thanh Giản (số 7+8), Đặc khảo về vua Quang Trung (số 9+10), Đặc khảo kỷ niệm 100 năm Nguyễn Trung Trực (số 12), Đặc khảo chiến thắng xuân Kỷ Dậu (số 13), Đặc khảo về Việt kiều tại các lân bang (số 16), Đặc khảo về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam (số 19+20), Đặc khảo về 200 năm phong trào Tây Sơn (số 21), Đặc khảo về Đà Lạt (số 23+24), Đặc khảo kỷ niệm 300 năm ngưng chiến Nam Bắc phân tranh thời Trịnh Nguyễn (số 26), Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (số 29). Tập san Sử Địa để lại“những ấn tượng sâu sắc về tinh thần khoa học và ý thức dân tộc của những người chủ trương tập san và các tác giả bài viết. Tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm của tập san. Nhiều bài viết trên tập san thực sự là những công trình nghiên cứu có giá trị cao, sưu tầm tư liệu công phu, xử lý thông tin khoa học, thái độ khách quan trung thực và nhất là góp phần dấy lên tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc và nêu cao các giá trị văn hóa dân tộc” .
b). Thời Khoa học xã hội và Nhân văn:
Hơn 40 năm (1975-Nay), có thể thống kê 4 ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới, Dân tộc học, Khảo cổ học những lĩnh vực sử học được giảng dạy và nghiên cứu khá phong phú và toàn diện, thể hiện qua tên các chuyên đề, môn học cơ bản như sau:
 Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Tiến trình Lịch sử Việt Nam; Lịch sử thế giới cổ trung đại, Lịch sử thế giới cận hiện đại, Lịch sử văn minh thế giới, Lịch sử khai phá đồng bằng sông Cửu Long, …
 Lịch sử kinh tế Việt Nam, Chế độ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam, Những vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long, Chủ nghĩa tư bản ở miền Nam, Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, Công cuộc khẩn hoang đồng bằng sông Cửu Long
 Các đảng phái chính trị Việt Nam, Đặc điểm chiến tranh ở Việt Nam thời hiện đại, Biên giới và biển đảo Việt Nam, Tư tưởng và học thuyết quân sự Việt Nam, Tư tưởng Việt Nam thời Trần, Văn hóa làng xã Việt Nam, Văn hóa Việt Nam - Đông Nam Á; Đại Việt thời Lý Trần, Những vấn đề lịch sử, văn hóa, ngoại giao, pháp luật thời Nguyễn…
 Phân hóa xã hội và hình thành các giai cấp mới ở Việt Nam thế kỷ XX, Đội ngũ sĩ phu và trí thức Nam bộ thời tiếp xúc Đông-Tây, Giai cấp địa chủ ở Nam kỳ, Phong trào nông dân Việt Nam trong lịch sử…
 Bang giao Việt Nam-Đông Nam Á, Quan hệ Việt-Mỹ, Quan hệ Việt-Trung; Quan hệ quốc tế thời hiện đại, Hiệp hội các nước Đông Nam Á, Hệ thống chính trị Đông Nam Á…
 Chủ nghĩa khu vực, Chủ nghĩa thực dân, Chủ nghĩa tư bản hiện đại, Cách mạng tháng Mười, Toàn cầu hóa và xung đột quốc tế; Nghiên cứu về Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Bắc Mỹ, Philippin, Xiêm-Thái Lan, Nhật Bản, Australia, Campuchia và Lào, Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung cận Đông…
 Thời đại đồ đá, trống đồng Đông Sơn, văn hóa khảo cổ Đồng Nai, Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Óc Eo, Thời tiền sử vùng đất Nam bộ, Khảo cổ học tiền sử và sơ sử thành phố Hồ Chí Minh…
 Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Văn hóa tộc người các dân tộc miền Đông Nam bộ, Văn hóa Nam Bộ, Lịch sử và văn hóa Chăm, Lịch sử văn hóa các dân tộc Đông Nam Á, Các dân tộc Đông Á; Những vấn đề nông thôn Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Phum, Sóc Khmer và nông thôn Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
 Khảo cổ học đô thị, Khảo cổ học bình dân, Khảo cổ học Ấn độ, Khảo cổ học Trung Quốc, Khảo cổ học dưới nước, Cổ vật, Gốm sứ và nghề thủ công…
Trên cơ sở giảng dạy và nghiên cứu, nhiều ấn phẩm sử học đã ra đời phục vụ cho học tập, nghiên cứu và tham khảo, tiêu biểu là một số tác phẩm (chủ yếu do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất bản) trong thời gian từ thập niên 90 đến nay là:
 Lịch sử thế giới cổ trung đại (Đỗ Văn Nhung, 1993)
 Lịch sử thế giới cận đại (Võ Mai Bạch Tuyết, 1994)
 Lịch sử thế giới hiện đại (Lê Văn Quang, 1998)
 Đại cương lịch sử văn minh phương Tây (Đỗ Văn Nhung, 1999)
 Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á (Hoàng Văn Việt, 2000)
 Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến nay (Lê Văn Quang, 2001)
 Sự hình thành Chủ nghĩa khu vực của ASEAN (Nguyễn Ngọc Dung, 2002)
 Khởi nghĩa Trương Định (Nguyễn Phan Quang, Lê Hữu phước, 2003)
 Lịch sử Việt Nam cận-hiện đại (1858-1975) (Hà Minh Hồng, 2005)
 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975) (Võ Văn Sen, 2005)
 Trống đồng kiểu Đông Sơn ở miền Nam Việt Nam (Phạm Đức Mạnh, 2005)
 Nam Bộ 1945-1975: Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam (Hà Minh Hồng, 2008)
 Văn hóa tộc người, truyền thống và biến đổi (Ngô Văn Lệ, 2010)
 Khảo cổ học bình dân Nam bộ Việt Nam: từ thực nghiệm đến lý thuyết (Nguyễn Thị Hậu, 2010)
 Lịch sử Việt Nam (1954-1975) (Võ Văn Sen, Hà Minh Hồng, 2011)
 Vấn đề ruộng đất ở Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam (1954-1975) (Võ Văn Sen, 2011)
 Tư tưởng Việt Nam thời Trần (Trần Thuận, 2013)
 Đặc trưng văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc - Tương đồng và khác biệt (Trần Thị Thu Lương, 2016)
 Các tiểu quốc thuộc Vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ (Đặng Văn Thắng, 2017)
 Các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ (Đặng Văn Thắng, 2017)…
4. Kết nối và luận suy
Không thể kết nối những gì khác bản chất và đặc điểm hệ thống chia cắt đất nước, nhưng có thể kết nối lịch sử phát triển từ thời chiến sang thời bình, đưa đến non sông liền một giải và cùng hát câu ca “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào”.
Thực ra thế hệ thời chiến hay thế hệ thời bình cũng không được tùy tiện xếp kế nhau để thành thế hệ nối tiếp được, nhất là thời chiến có những chiến tuyến không thể lẫn lộn; nhưng đạo lý con Lạc cháu Hồng chảy đều trong huyết quản, dẫn dắt tâm trí người Việt Nam cùng hát lời ca của Trịnh Công Sơn về “biển xanh sông gấm nối tròn một vòng tử sinh”.
Nối các kết quả trên đây của hai thời, có thể thấy một chặng đường hơn 60 năm của Sử học ở đây đã có những đóng góp quan trọng:
Một là, đã giảng dạy, nghiên cứu nhiều vấn đề khoa học lịch sử, định vị được “một trung tâm nghiên cứu lịch sử hàng đầu của Việt Nam” ở phía Nam Tổ quốc. Những vấn đề Quốc sử hay Việt sử (ở Văn khoa xưa) cũng chính là những vấn đề lịch sử dân tộc Việt Nam (ở Nhân văn nay) – Từ cội nguồn đến các thời kỳ phát triển cổ-trung-cận-hiện đại, được lý giải theo nhiều phương pháp luận sử học khác nhau, sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau, làm sáng tỏ nhiều nội dung khoa học lịch sử. Tương tự thế, những vấn đề Thế giới sử (ở Văn khoa xưa) cũng chính là những vấn đề lịch sử thế giới và khu vực Đông Nam Á (ở Nhân văn nay), nhiều nội dung khoa học lịch sử và văn minh thế giới phương Tây, phương Đông được đưa vào giảng dạy và học tập. Ngay cả những khoa học liên quan trực tiếp đến sử học như Nhân chủng học, Xã hội học (thời Văn khoa), Khảo cổ học, Dân tộc học (thời Nhân văn), cũng từng bước được đem vào nhà trường góp cho sử học thêm nhiều tri thức khoa học mới.
Hai là, đã không ngừng truyền bá được nhiều tri thức cho “Dân ta” “biết sử ta” và “tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Những vấn đề lịch sử Việt Nam nguồn gốc dân tộc, sự hình thành dân tộc, các nền văn hóa khảo cổ Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo và nghiên cứu về dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học đã minh chứng cho sự hình thành quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa của 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam ngày nay. Các thời kỳ phát triển của dân tộc Việt Nam từ cổ đại đến trung đại, cận đại, hiện đại trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, đều đã được nghiên cứu với nhiều công trình được giảng dạy và học tập, chuyển thành kiến thức giáo khoa cho hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời chuyển thành ấn phẩm phát hành rộng rãi trên phạm vi toàn quốc, được nhiều người, nhiều giới nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng. Những nội dung giảng dạy và nghiên cứu sử học ở Văn khoa xưa và Nhân văn nay từ phía Nam góp phần vào kho tàng tri thức sử học toàn quốc không chỉ tường tận “gốc tích nước nhà Việt Nam” mà còn góp phần đào tạo, truyền bá tri thức ấy theo phương hướng “Dân ta phải biết sử ta” như Chủ tịch Hồ Chí Minh răn dạy.
Ba là, đã liên tục góp phần trực tiếp đào tạo đội ngũ những người giảng dạy và nghiên cứu sử học từ và thế hệ Văn khoa xưa đến thế hệ Nhân văn nay, ngày càng trưởng thành, phụng sự đất nước, phục vụ cho ngành sử. Ban Sử Văn khoa xưa năm có số lượng giáo chức cơ hữu đông nhất là 1973-1974 từng có hàng chục giáo sư thực thụ, giáo sư diễn giảng, giảng sư, phụ khảo giảng dạy và nghiên cứu sử học (trước đó năm 1969-1970 có giáo sư thực thụ, giáo sư diễn giảng, giáo sư ủy nhiệm, giảng sư, giảng sư ủy nhiệm, nhân viên giảng huấn, phụ khảo trưởng, phụ khảo, ngoài ra còn có cả người nghiên cứu từ các ngành khoa học khác trong - ngoài trường Văn khoa và người nước ngoài cùng cộng tác giảng dạy và nghiên cứu về sử học, nhân chủng học, xã hội học và Nhân văn). Khoa Lịch sử Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nay từng có lúc cao nhất (năm 2012-2013) đội ngũ gần 50 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu sử học, tính cả đội ngũ nghiên cứu Nhân học, Quan hệ quốc tế, Đông phương học, Lưu trữ học còn có thêm 5-7 chục cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu các ngành liên quan đến sử học. Đội ngũ ấy có trình độ thấp nhất từ Thạc sĩ, Tiến sĩ trở lên, có những giáo sư đứng đầu các chuyên ngành sử học có học, nhiều người có hàm học vị, có vị trí uy tín khoa học trong nước, quốc tế, giữ những trọng trách quản lý khoa học và tích cực hoạt động khoa học
Bốn là, đã gom góp ngày càng dày thêm sử phẩm sản sinh từ những con người tâm huyết với sử học nước nhà. Những ấn phẩm sử học của Văn khoa xưa không nhiều nhưng đó đều là sách được sử dụng nhiều (nhất là nghiên cứu tham khảo, trích dẫn, tranh luận…) cả trong và ngoài nước ngay từ khi xuất bản lần thứ nhất cho đến ngày nay; việc tái bản các ấn phẩm ấy đã diễn ra không chỉ trong nước và không chỉ 1 lần kể từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay. Những ấn phẩm sử học của Nhân văn từ sau 1975 (chủ yếu từ thập niên 90) đến nay khá nhiều về số lượng và phong phú về thể loại, toàn diện về chủ đề, vấn đề khoa học; có thể mức độ quảng bá chưa rộng rãi, nhưng đã và đang là những vấn đề được nghiên cứu, giảng dạy, tham khảo ngày càng nhiều trong khuôn khổ đại học. Chưa có thống kê hay tuyển tập sử phẩm hơn 60 năm qua (mặc dù đó cũng là vấn đề cần thiết), nhưng nhìn khái quát hàng trăm đầu sách lại dễ nhận ra những tác giả bấy lâu nay đều là người tâm huyết với sử học, quan tâm đến chuyên sâu khoa học lịch sử, dày công nghiên cứu hàng chục năm, rút ruột cả cuộc đời giảng dạy lịch sử để có được những sản phẩm tinh thần ấy.
Hơn 60 năm kể từ khi Đại học Văn khoa Sài Gòn hình thành và phát triển, làm tiền thân cho Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh ngày nay xây dựng phát triển; thế cũng nhiều để một khoa học lịch sử có những thành tựu trong phát triển. Những vấn đề khoa học lịch sử quốc gia và thế giới không thể chỉ tập trung ở một phần đất nước (dù đó là đất rộng phương Nam), càng không thể giải quyết trong một nhà trường (dù đó là một đại học lớn). Kiểm lại mới thấy làm được nhiều việc không nhỏ và góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của nền sử học nước nhà; nhất là phát huy lợi thế của việc giảng dạy lịch sử bậc đại học trong cả hai thời để truyền tải ngay những thành tựu và kết quả nghiên cứu sử học đến các thế hệ công dân. Đội ngũ các nhà nghiên cứu và giảng dạy khoa học lịch sử ở Đại học Văn khoa xưa và Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nay có nhiều thế hệ tiếp nối. Mỗi thời có những hoàn cảnh và điều kiện riêng, những con người của mỗi thời không chỉ khác về thế hệ và thế giới quan cũng như ý thức hệ, nhưng trên cùng một không gian giảng đường Ban Sử xưa và Khoa Sử nay, có thể nhìn lại hai thời của chặng đường giảng dạy và nghiên cứu lịch sử ấy theo góc nhìn khái quát về chân dung và trước tác như thế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ nam sinh viên Đại học Sài Gòn 1966, 1970
2. Chỉ nam giáo dục Cao đẳng Việt Nam, Sài Gòn, 1973
3. Văn khoa, số Đinh tập 1975 “Kỷ niệm 25 năm thành lập Đại học Văn khoa Việt Nam” (Một nhóm giáo chức các đại học Văn khoa Việt Nam chủ trương)
4. Tập san Sử Địa, Nxb Hồng Đức và Tạp chí Xưa và Nay tái bản năm 2016
5. Khoa Lịch sử 30 năm trên đường phát triển (1977-2007). Nxb ĐHQG-HCM 2007
6. Khoa Lịch sử, Những vấn đề lịch sử, Tuyển tập. Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2017
7. Lịch sử 50 năm trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (1955-2005). Đề tài NCKH cấp trường, 2008

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.