Lê Ngọc Phương. Kết cấu trần thuật trong truyện ngắn hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh

KẾT CẤU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC HUYỀN ẢO MỸ LATINH
Lê Ngọc Phương*

* ThS., Khoa Văn học và Ngôn ngữ – Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TPHCM.



Mỗi thể loại văn học thường dựa trên một nguyên lý cơ bản, một kết cấu đặc trưng của thể loại đó. Truyện trinh thám dựa trên nguyên lý này: một bí ẩn tội ác diễn ra và thám tử là người đi tìm công lý, lao vào cuộc điều tra tội ác. Truyện kỳ ảo phương Đông lẫn phương Tây trước nay cũng tồn tại một bí ẩn, một chi tiết lạ xuất hiện phá vỡ trật tự bình thường, nhưng khác với trinh thám cổ điển, truyện kỳ ảo không kết thúc bằng một đáp án lý tính. Trong khi truyện trinh thám kể về một tội phạm có động cơ và mục đích gây án thì truyện kỳ ảo kể về sự bí ẩn không thể lý giải theo logic thông thường. Nhà nghiên cứu firtex trong Truyện kể kỳ ảo ở Pháp đã phát biểu điều ấy: “Cái kỳ ảo được đặc trưng bởi một sự xâm nhập đường đột của cái bí ẩn vào khuôn khổ của cuộc sống thực” (trích theo tài liệu [1]). Cái kỳ ảo thường mập mờ giữa các nguyên nhân: tự nhiên, siêu nhiên và ngẫu nhiên khiến người đọc phân vân trong việc xác định bí ẩn thuộc về con người hay một thế lực khác. Rất khó lý giải, cái bí ẩn đứng chông chênh giữa các nguyên do. Cái bí ẩn của truyện kì ảo “trụ lại trong sự bất định” [2] hay nói như T. Todorov trong Dẫn luận văn chương kì ảo: cái kỳ ảo tạo nên sự cảm nhận lưỡng lự ở độc giả ngay khi việc đọc đã hoàn tất [3].
Kế thừa từ truyền thống truyện kỳ ảo, văn học châu Mỹ Latinh, đặc biệt là trào lưu hiện thực huyền ảo đã tạo nên một khuynh hướng phát triển mới cho thể loại. Năng lượng thẩm mỹ của trào lưu này đan quyện giữa chất huyền ảo với chất triết học, giữa việc khám phá những đề tài mới lạ với những cách tân trần thuật độc đáo.

So với thơ ca, truyện ngắn và tiểu thuyết là hai thể loại văn xuôi thành công hơn cả trong trào lưu hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh. Trước nay, người đọc vốn chú ý đến những thiên sử thi vĩ đại như Ngài tổng thống, Các vị thần Ngô, Trăm năm cô đơn, hay Trò chơi ô lò cò… Thế nhưng, truyện ngắn cũng là một thành tựu quan trọng tạo nên tiếng vang khắp thế giới cho trào lưu này. Với những ưu điểm riêng, truyện ngắn là thể loại thường xuyên được các nhà văn Mỹ Latinh chọn làm nơi cách tân kĩ thuật: người kể chuyện, giọng điệu, cấu trúc... Truyện ngắn cũng là thể loại thích hợp với những thể nghiệm mới lạ. Giáo sư D. Grojnowski trong công trình nghiên cứu Đọc truyện ngắn từng phát biểu:

“Truyện ngắn là một thể loại muôn hình nghìn vẻ biến đổi không cùng. Nó là một vật biến hoá như quả chanh của Lọ Lem. Biến hoá về khuôn khổ ba dòng hoặc ba mươi trang. Biến hoá về kiểu loại, tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến cố có thật hoặc tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng. Biến hoá về nội dung thay đổi vô cùng tận...” [4].

Ngoài khả năng biến hóa linh hoạt, sự dồn nén của hình thức nhỏ gọn dễ dàng khiến truyện ngắn có khả năng “khai nhãn” hay làm bùng vỡ cảm nhận nơi người đọc. Độ căng của truyện ngắn thuận lợi cho việc tạo nên những biến cố bất ngờ cho chất huyền ảo. Đỉnh điểm của truyện ngắn có thể nằm ngay ở đỉnh điểm sự hoang mang, bối rối của nhân vật và người đọc. Không cần “triền dốc thoai thoải” của tiểu thuyết, truyện ngắn có thể kết thúc ngay tại đấy.

Truyện ngắn là một thể loại “động” chứng tỏ sự linh hoạt suốt thế kỉ qua. Có những nhà văn Mỹ Latinh thành công rực rỡ ở cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn như: Julio Cortazar, Carlos Fuentes, Juan Rulfo, G. Marquez... Thế nhưng cũng có những nhà văn thường xuyên canh tác ở truyện ngắn và trở thành đại diện cho thể loại này như Horacio Quiroga, L. Borges, Octavio Paz... Chọn truyện ngắn, chúng tôi mong muốn phân tích một số phương diện tạo nên kết cấu huyền ảo của tác phẩm thuộc trào lưu này.



1. “Hạt nhân bí ẩn” và cảm giác lưỡng lự

Có thể nói, khoái cảm và sức hấp dẫn của truyện ngắn hiện thực huyền ảo thường thể hiện ở cảm giác về sự thật không được sáng rõ trong tác phẩm: một sự thật vừa được hé mở lại vừa mập mờ nước đôi, một sự thật vừa được biểu hiện, vừa bị khuất lấp. Cách kể chuyện mơ hồ đã gợi mở liên tục những đáp án khác nhau, khiến người đọc hoang mang giữa việc tin tưởng và nghi ngờ câu chuyện. Nói như T. Todorov trong Dẫn luận về văn chương kì ảo, đó là một “tình thế phân vân, hồi hộp” được duy trì cho đến phút cuối của việc đọc.

Truyện ngắn hiện thực huyền ảo thường xuất hiện những huyền thoại bản địa, những giấc mơ, linh hồn, xác chết, bóng ma và những biểu tượng huyền ảo như mê lộ, mê cung, lửa và nước… Có tác giả khai thác những mối quan hệ đời thường, những đề tài có tính chất bản địa, lại có tác giả tìm kiếm chủ đề mang tính chất siêu hình hay mang giá trị phổ quát. Thế nhưng, sự gần gũi của những tác gia lớn nằm ở khả năng xử lý đề tài: điều kỳ diệu được trộn khéo léo trong những chi tiết có vẻ xác thực.

Mang đặc trưng của thể loại kỳ ảo, truyện ngắn hiện thực huyền ảo châu Mỹ Latinh chứa đựng một sự kiện bí ẩn và tạo nên tính lưỡng lự trong tiếp nhận của độc giả. Thế nhưng, tính bí ẩn trong truyện ngắn Mỹ Latinh thường không đặt ở độ căng kịch tính, ở tình huống kì dị ma quái, hay ở trạng thái hoang mang ghê sợ lan truyền từ nhân vật cho đến người đọc. Cái bí ẩn pha trộn giữa những điều tưởng như “huyền thoại” và những tình tiết đời thường, tạo nên một hợp chất dịu dàng và quyến rũ. Cái bí ẩn hướng mục đích khám phá một thực tại thứ ba, một thực tại nằm giữa thực và ảo, một “thực tại kì diệu” của mảnh đất trùng phức nhiều nền văn minh nhân loại.

Xét trên toàn thể, “hạt nhân bí ẩn” của văn chương huyền ảo Mỹ Latinh dịch chuyển liên tục giữa thực và không thực, giữa kinh nghiệm lý tính và trực cảm tâm linh. Nổi bật của những tác phẩm thành công là khả năng bố trí và chuẩn bị khéo léo để chi tiết huyền ảo xuất hiện một cách tình cờ trong bối cảnh đời thường. Cả nhân vật và người đọc thường phát hiện sự bí ẩn vào giây phút duy nhất, một cách muộn mằn và đầy ngẫu nhiên. Cách sắp đặt dường như “không hề có kịch bản” là nét ngoạn mục làm nên thành công cho tác phẩm.

J. Cortazar trong truyện ngắn Tận thế trên đảo Solentiname từng kể một câu chuyện về người đàn ông du hành qua những đất nước khác nhau của vùng Trung Mỹ.

“Hắn chụp hình lưu niệm ― những tấm hình lồng khung các bức họa hết sức hiền hòa, dân dã, mà hắn khám phá với đầy thích thú. Khi trở về nhà, ở Paris, hắn mang tráng rửa những cuộn phim này và rọi những thước phim dương bản. Khi ấy, hắn nhận thấy hình ảnh của những bức tranh hiền hòa đã hoàn toàn biến mất mà thay vào đó là những cảnh bạo lực, cảnh trấn áp của cảnh sát, bắt bớ, làm liên tưởng đến nền độc tài quân phiệt ở Á Căn Đình, nơi hắn không hề đặt chân đến.

Phải chăng có sự nhầm lẫn từ phòng rửa phim vì đã đảo lộn hai cuộn phim? Hay, đã có sự tác động của một hiện tượng bí ẩn ― giống như bạo lực của lịch sử đã chụp lấy hắn, chất vấn, bằng cách áp đặt một cách huyền bí, những cảnh tượng mà hắn không biết hay không muốn nhìn thấy? Hắn cảm thấy lo lắng, choáng váng, giống sự kinh khiếp đã chui vào bụng hắn, khiến hắn phải nôn mửa trong phòng tắm, cùng lúc vợ hắn về tới, đến lượt nàng nhìn vào những tấm phim dương bản. Khi hắn trở ra bên cạnh, nàng nói với hắn: Những bức hình anh chụp tranh dân dã thật tuyệt vời...” (Trích dẫn từ Guy Scarpetta, Julio Cortazar: Thuật sĩ kì ảo của văn chương Nam Mỹ) [5]

Nhà nghiên cứu Guy Scarpetta từng nhận xét về J. Cortazar: mỗi một trang sách của thuật sĩ này đều thấp thoáng không khí ma thuật. Chất huyền ảo tập trung ở chi tiết những bức ảnh: sự thực là tấm ảnh chứa đựng năng lực huyền bí hay chỉ là ảo giác tinh thần của người đàn ông? Lối kết truyện hờ hững phần nào làm tan đi tình tiết bí ẩn về những bức ảnh. Việc từ chối mọi diễn giải khiến truyện ngắn của J. Cortazar bỏ ngõ đáp án sau cùng.

Trong truyện ngắn huyền ảo Mỹ Latinh, cái bí ẩn thường xuyên xuất hiện, nhưng thực chất nó vắng mặt và không hề được giải thích. Đối tượng bí ẩn được trưng bày, nhưng nguyên nhân bí ẩn được che dấu. Có vẻ như, “một bí ẩn được nhắc đến như một sức mạnh vắng mặt nhưng lại khiến cho mọi biến cố phải vận hành… Cái chủ yếu vắng mặt, cái vắng mặt chủ yếu” [6]. Chính sự vắng mặt đó tạo nên sự lập lờ huyền ảo.

Khác với J. Cortazar, nhân vật của một số nhà văn Mỹ Latinh còn nhìn cái bí ẩn bất thường như một sự hiển nhiên, thậm chí như điều thú vị. Giọng kể chuyện bình thản khiến cái bí ẩn bị lờ đi, nhân vật thản nhiên chấp nhận khiến sự việc càng đáng ngờ hơn đối với độc giả.

Một số nhà văn huyền ảo Mỹ Latinh, đặc biệt là Borges và Marquez đều có xu hướng tiết giảm độ căng của hạt nhân bí ẩn. Thay vào đó, các nhà văn gia tăng chất thơ, sự mềm mại và phong vị hài hước. L. Borges là nhà văn thường nhấn nhá bằng những chờ đợi, những ngoại đề suy tư nội tâm. Mỗi một tình tiết của truyện Borges thì tự thân giản dị. Nhưng kì lạ là khi tích tụ lại, chúng tạo nên tính phức hợp và chuẩn bị cho một sự thảng thốt, bất ngờ sẽ xảy đến. Mỗi một biến tấu truyện mang đầy những nghịch lý bí ẩn và những khoảng trống. Ta có thể tìm thấy qua những tác phẩm nổi tiếng như Phương Nam, Người bất tử, Văn tự của Thượng đế…

Trong khi đó, Marquez theo đuổi phong cách giống bậc thầy G. Flaubert: khách quan và tỉnh táo trước tất cả sự việc. Marquez tái tạo lại cái siêu nhiên bằng cách “bình thường hóa” hoặc “lãng mạn hóa” chúng, khiến sự huyền ảo trở nên giản dị như cái thường nhật. Trong khi diễn ngôn truyện ngắn Borges thường nhẹ và sâu thăm thẳm thì cách tự sự của Marquez lại đậm chất thơ kì vĩ từ khả năng tái tạo hình ảnh và nhịp điệu.



2. Sự lấp lửng, mơ hồ của tình tiết

Trong tác phẩm, các yếu tố huyền ảo được thiết lập rất tinh tế, rất khó nhận biết và bao hàm một mức độ trừu tượng hóa cao. So với truyện kì ảo của E. A. Poe, Maupassant hay Hoffmann, truyện ngắn hiện thực huyền ảo thế kỷ XX thường không một tình tiết nào quá dị thường và nặng nề, không có sự đứt gãy lớn gây chấn động cho độc giả. Hầu hết các tình tiết xây dựng trên nguyên tắc mà nhà nghiên cứu Holland Rogers từng phát hiện: “diễn tả những chuyện bình thường như những điều kỳ diệu và diễn tả những điều kỳ diệu như những chuyện bình thường” [7]. Vị thần của G. Marquez được miêu tả rất trần tục với đôi cánh khổng lồ, ăn mặc rách rưới, đầu hói bóng lơ thơ với mớ tóc bạc, nói giọng địa phương khó hiểu... Hình ảnh đôi cánh khiến người đọc liên tưởng đến một thiên thần trong huyền thoại hoặc trong huyền tích Kinh Thánh. Thế nhưng, sự rách rưới và bẩn thỉu lại khiến ta hình dung về một kiếp người trầy trụi.

Tương tự như thế, truyện ngắn Marquez thường xuyên xuất hiện nhân vật “linh hồn”. Nhưng nhân vật này không còn giống với hình ảnh bóng ma trong Liêu trai chí dị của phương Đông hay truyện kì ảo phương Tây thế kỉ trước. Một linh hồn, một tử thi đang thối rữa dần được diễn tả dưới cảm giác của một con người. Không có sự hoang mang, sợ hãi, truyện ngắn Marquez gợi lên thế giới bên kia cũng đầy đủ những khổ luỵ, những mơ mộng và những tình thương dành cho con người. Marquez kể câu chuyện huyền ảo bằng sự âu yếm và cảm thông.

Truyện ngắn của A. Asturias, J. Cortazar, Octavio Paz hay V. Llosa cũng đậm chất lãng mạn Mỹ Latinh. Những huyền thoại của người da đỏ sống lại bầu không khí tích điện, giao thoa giữa các nền văn hóa đa lai. Thói quen tư duy của cư dân bản địa vốn xem cái hoang đường cũng bình thường và dễ hiểu như cái thường nhật trong cuộc sống. Niềm tin ấy rất tự nhiên như không hề có sự lưỡng lự và xáo trộn trong tâm lý. Họ tin từ trong bản năng. Giữa cái hiện thực và cái không hiện thực mang một sự giao tiếp kì diệu. Vì thế, ở những truyện ngắn hiện thực huyền ảo, “những điều kỳ diệu được diễn tả với một sự chính xác vốn thích nghi với cái bình thường của đời sống hàng ngày” [8]. Truyện ngắn hiện thực huyền ảo của Mỹ Latinh nhẹ như thơ và tránh đi sự hoang mang, hoảng sợ nơi người đọc. Cũng vì thế, cái bí ẩn của truyện ngắn lặn xuống phần sâu kín của tác phẩm, khó nắm bắt và khó lý giải hơn.

Thách thức của truyện ngắn huyền ảo Mỹ Latinh thường đặt ở cốt truyện và tình tiết chứa đựng nhiều khoảng trống, nơi thực và ảo tan vào nhau. So với trước kia, truyện ngắn của những tác giả Mỹ Latinh vẫn có biến cố kịch tính, nhưng sự kịch tính này “không dữ dội, không gay cấn và không thể chịu đựng nổi như trước kia” [9]. Những biến cố trong truyện không bị đẩy dồn tới đỉnh điểm mà được kéo dãn ra hoặc được làm mềm đi. Chất huyền ảo theo đó len vào, phát tán trong các tình tiết nhỏ. Không nằm ở đỉnh điểm, cao trào hay kết thúc truyện, chất huyền ảo ở chỗ không xác định được và rải đầy trong tác phẩm.

Thử đọc một truyện ngắn của Borges, ta dễ nhận thấy những khoảng trống không thể xác định trên văn bản. Phương Nam là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Borges kể về câu chuyện xảy ra với người đàn ông tên Juan Dahlmann dự định trở về phương Nam thăm quê hương. Thế nhưng, một sự việc kì lạ diễn ra với anh ta. Trong lúc vội vã leo cầu thang, trong bóng tối, một vật nào đó đập vào trán anh, “anh đã nhìn thấy nỗi sợ được khắc sâu và bàn tay xoa lên trán vấy đỏ máu”. “Trong đêm đó, cơn sốt đã vắt kiệt sức Dahlmann”. Anh được mời thầy thuốc chữa bệnh nhưng không thuyên giảm. Anh được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu. Người ta lột hết áo sống, cạo đầu, ghì chặt anh vào giường bằng những tấm kim loại và rọi ánh sáng vào mắt… Anh ta được bác sĩ phẫu thuật thông báo suýt chết vì bệnh nhiễm khuẩn máu và sắp phục hồi. Dahlmann lại thấy mình được đưa về điền trang ở phương Nam của mình, trên một chiếc xe cấp cứu.

Ở nhà ga đợi tàu hoả, anh ta uống một tách cafe, rồi anh ta lên tàu, trong khi tàu chạy, anh bắt đầu đọc cuốn Nghìn lẻ một đêm. Dahlmann chập chờn qua những suy nghĩ, qua những cơn mơ. Con tàu đột nhiên dừng lại giữa đồng không mông quạnh và Dahlmann nhận ra đây không phải là nơi mình muốn đến nhưng vẫn “chấp nhận đi bộ như một cú mạo hiểm nho nhỏ”. Dahlmann ở lại một cửa hàng cơm và tại đây điều kì lạ lại xảy ra. Dahlmann đột nhiên cảm thấy bị ném bởi những viên bi bằng bánh mì. Một người thổ dân chửi bới và sỉ nhục anh, mời anh vào một cuộc đấu tay đôi. Dahlmann được một ông già ném cho một con dao và anh ta bắt đầu vào cuộc. Truyện ngắn kết thúc bằng chi tiết: “Dahlmann đâm mạnh con dao, mà có lẽ anh sẽ chẳng biết điều khiển nó, rồi anh đi thẳng ra cánh đồng bao la” [10].

Phương Nam là một truyện ngắn cô đặc và nhiều khoảng trống. Có thể nhận thấy sự bao phủ bởi những tình tiết lập lờ và mơ hồ. Điều gì mới thực sự là nguyên nhân gây ra vết thương của Dahlmann? Anh ta được trở về điền trang thật hay đây chỉ là giấc mơ được giải phóng khỏi viện điều dưỡng? Người đàn ông chủ quán là người quen gần điền trang của Dahlmann hay là người của viện điều dưỡng? Và câu hỏi quan trọng nhất: vì sao Dahlmann bị thách đấu, kết cuộc của anh ta là gì?

Những tình tiết ngẫu nhiên và bất ngờ đưa Dahlmann đến chỗ không lường trước được. Những sự việc diễn ra bị lu mờ trước nội tâm phức tạp và dịch chuyển liên tục của Dahlmann. Câu chuyện trở về phương Nam có thể là thực, nhưng đó cũng có thể là cơn váng vất hoặc cơn mơ nào đó của Dahlmann. Kết cấu mở khiến tâm điểm của truyện ngắn vắng mặt, chất huyền ảo tan vào tình tiết, không có trung tâm.

Như vậy thưởng thức một truyện ngắn huyền ảo thường không chỉ là cảm thụ những biến cố. Sự cảm thụ đặt ở văn cảnh, ở tiết điệu, ở không – thời gian và ở những chỉ tiết tưởng chừng rất nhỏ. Truyện ngắn toát lên một góc khuất của thời đại: càng hiểu biết, con người càng cảm nhận vũ trụ vô hạn và sự hiện hữu của mình càng mong manh. Cuộc sống vốn dĩ rộng lớn và hỗn độn. Chính cái bí ẩn huyền diệu của tác phẩm khiến người ta ý thức về tình trạng hữu hạn, tiếp tục tìm kiếm và trải nghiệm những thực tại khác, bằng những nhãn quan khác.



3. Sự việc kỳ diệu, giọng điệu thản nhiên

Bên cạnh cốt truyện và tình tiết, giọng điệu của truyện ngắn huyền ảo cũng là một phương diện quan trọng. Mặc dầu cốt truyện kỳ lạ đang diễn ra, nhà văn lại kể chuyện bằng một giọng điệu nhẹ tênh, phớt lờ.

Asturias có một truyện ngắn nổi tiếng mang tên Hoan ăn kiến. Truyện kể về nhân vật Tôi mắc một chứng bệnh kì lạ: chứng bệnh ăn giấc ngủ. Mỗi đêm anh ta ăn giấc ngủ của mình và anh ta biết rằng những ai ăn giấc ngủ sẽ trở thành đất như những người đã chết. Điều đó khiến anh ta cảm giác như mình bị nghiền nát. Một ngày nhân vật Tôi gặp người chồng đi săn khỉ để cứu cô vợ cũng rơi vào tình trạng ăn giấc ngủ. Để cứu sống, chỉ có cách dùng máu khỉ tưới lên người đó. Tôi cùng với người chồng trở về nhà, nhưng không may thay, cô vợ chỉ còn là một đống đất hình người, bị hàng nghìn, hàng nghìn con kiến đỏ đào thủng lỗ chỗ…

Trong truyện ngắn, sự việc ăn giấc ngủ và bị trở thành đất rất kì dị và đáng sợ. Nhưng điều này dường như không gây nên cảm giác phi lý nơi nhân vật. Các nhân vật trong truyện không cảm thấy khó hiểu và hoài nghi về tình trạng đó. Họ chấp nhận như một sự thật. Điều này khá gần với tác phẩm Biến dạng của F. Kafka. Khi bị biến thành một con bọ, Samsa không cảm thấy việc này kì dị hay phi lý. Gia đình anh ta cũng thế. Việc họ làm là giải quyết tình trạng bi đát đó.

Ở Hoan ăn kiến, kết thúc truyện ngắn, người chồng đáng thương không muốn lìa xa vợ. Anh ta nuôi ý định phải thay hình đổi dạng, thôi không làm người nữa để biến thành một con gấu vàng có mõm dài. Con gấu sẽ liếm đất mùn của tổ kiến, đào thành một cái rãnh thò lưỡi vào trong, để cho đám kiến bám vào. Anh ta sẽ ăn hết kiến và cô vợ sẽ trở lại làm người.

Ta sẽ nhận thấy hai vấn đề song hành: Nhân vật chấp nhận tai họa và tìm cách xoay xở, người kể chuyện thì tin cậy vào độ chính xác và kể lại sự việc thản nhiên. Không ai có cảm giác về sự bất thường và bí ẩn. Cách kể chuyện bình thản ở ngôi thứ ba này khiến phong cách của Asturias và những nhà văn huyền ảo như Fuentes, Marquez và Llosa gần gũi nhau.

Giọng điệu kể chuyện đã tạo thành nét đặc trưng cho dòng văn chương huyền ảo. Theo nghiên cứu của Lê Nguyên Long, giọng điệu trở thành một tiêu chí quan trọng để xác định các loại hình truyện: Truyện cổ tích thường bắt đầu bằng “ngày xửa ngày xưa” và dẫn dắt người đọc thoát tục, bước vào thế giới thần kì. Người đọc và tác giả “đồng lõa” chấp nhận tất cả được kể là sự thật trong không khí hoang đường xa xưa. Trong văn xuôi hiện thực, người kể chuyện thường xuyên xác nhận sự thật, miêu tả tỉ mỉ, chân xác nhằm tạo nên một “cam kết chân thực” với độc giả [11]. Đến truyện kỳ ảo thế kỉ XIX, Hoffmann, Poe, Maupassant… lại đưa đến nhiều thủ thuật mới. Maupassant thường sử dụng nhân vật có tính hoảng loạn, chấn thương về tinh thần. Mặc dù câu chuyện được kể lại mạch lạc và đầy hấp dẫn, nhưng giọng điệu truyện thì băn khoăn và hoảng hốt tạo nên một sự rùng rợn. E. A. Poe thì bắt đầu bằng những luận đề khách quan khoa học nhưng sau đó sự hoang mang sợ hãi ngày càng xâm chiếm giọng điệu.

Trong khi đó, truyện huyền ảo đã làm một cuộc thay đổi ngoạn mục, không xác nhận sự nói dối và cũng không thuyết phục sự tin tưởng của độc giả. Truyện ngắn huyền ảo lướt qua thản nhiên giữa những ranh giới đó. Tác giả kể những câu chuyện khó tin với thái độ điềm nhiên như không. Sự việc thì phi thường, nhưng lời kể chuyện rất bình thường. Đây là điều kiện tuyệt vời để cái huyền ảo xuất hiện.

Nói như Marquez, tác giả kể chuyện với một gương mặt không thay đổi sắc thái, “gương mặt tỉnh bơ như một viên gạch”. Hay như Borges, tác giả kể bằng thái độ “vô ngôn” hoặc kiệm lời. Đó là những cách viết nhằm tạo nên nhiều khoảng trống, những điều ngập ngừng không nói, mặc dù tác giả hiểu rất rõ.

Giọng điệu thản nhiên, phớt lờ của truyện ngắn hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, một phần xuất phát từ niềm tin đậm chất châu lục. Cư dân bản địa vốn tin vào bản hiệp ước, một sự giao thoa đặc biệt giữa con người và thế giới siêu nhiên. Hơn nữa, sự thản nhiên này là một nét tinh thần của con người hậu bán thế kỉ XX: vượt qua ngưỡng sợ hãi, đi đến sự chấp nhận cái bất thường một cách thú vị.

Không mang cảm giác hoang mang, kinh khiếp, giọng điệu của truyện ngắn Mỹ Latinh đôi lúc ngậm ngùi, bi đát trước cái ngẫu nhiên, bất thường. Borges và Marquez kế thừa từ F. Kafka những nghịch dị trong giọng kể: vừa hài hước, vừa u buồn. Đặc biệt, một số truyện ngắn còn chen vào những nhận định châm biếm hài hước rất kín đáo. Chẳng hạn truyện ngắn Cụ già với đôi cánh khổng lồ chứa đầy những nhận định dí dỏm.

Đó là một giọng kể hấp dẫn và hài hước, xen lẫn những lời bình luận thi vị. Tác giả làm như đang kể một câu chuyện nhẹ nhàng của đời thường. Nhưng bên dưới giọng điệu hài hước kia là câu chuyện “cười ra nước mắt” về sự phá sản của tình thương con người. Giọng thản nhiên, che giấu nhiều trăn trở đã khiến Marquez thực hiện được một ẩn ý quan trọng: nhường quyền suy nghĩ và đánh giá lại cho người đọc.

Peter Vail trong Điệu Tango phương Nam phát hiện một sự độc đáo: văn chương huyền ảo Mỹ Latinh mang dòng máu tuôn trào nhưng phong cách truyện thì lại là một “understatement” mẫu mực: phớt lờ, dịu nhẹ, kiềm chế [12]. Điều này đối lập với biên độ say sưa đầy tính thuyết phục, hùng biện của văn chương nước Nga. Dostoievski và L. Tolstoy tiêu biểu cho phong cách kể chuyện hấp dẫn và đầy những biện giải, những hùng biện tư tưởng. Trong khi văn chương Mỹ Latinh chất phát hơn, giọng điệu phớt lờ và dịu nhẹ hơn. Cách kể chuyện kiềm chế đầy ẩn ý của Borges, Marquez và những nhà huyền ảo xuất sắc khác, theo Peter Vail, là cách nâng quyền lợi của độc giả lên, khiến vai trò của chủ thể và khách thể văn chương ngang bằng nhau. Độc giả không được dẫn dắt, tự anh ta nhận thấy sự chông chênh trong tình thế phân vân lưỡng lự của mình [13].

Giọng điệu của truyện ngắn hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh thể hiện thủ pháp hiện đại của văn chương thế giới. Kiểu đọc thưởng thức theo lối đồng cảm, đồng tình với tác giả đã không còn nữa. Kịch phi lý, tiểu thuyết mới, truyện ngắn hiện thực huyền ảo đều đòi hỏi một cách đọc trí tuệ và chủ động. Sự thản nhiên của truyện ngắn Mỹ Latinh góp vào sứ mệnh nâng tầm đón đợi ở độc giả, trao cho họ niềm hạnh phúc được tham gia vào câu chuyện.

Giọng điệu nhẹ tênh, không “thề thốt” cũng không “cam kết” này còn là một đặc điểm của văn chương thế kỉ XX, giao thoa giữa tinh thần hiện đại và hậu hiện đại. Nói như Italo Calvino, cuộc đời vốn đã trĩu nặng, giọng điệu thản nhiên lại mang đến một nhiệt hứng mới, một đặc tính nhẹ cho văn chương thế kỉ mới, như là cách phản ứng lại tính nặng của cuộc đời.



Tạm kết

“Hạt nhân bí ẩn”, tình tiết mơ hồ và giọng kể thản nhiên là một số phương diện nổi bật tạo nên kết cấu truyện ngắn mang phong cách hiện thực huyền ảo. Khả năng hấp dẫn của văn chương Mỹ Latinh nằm ở những câu chuyện mang bóng dáng của huyền thoại bản địa pha lẫn hiện thực đời thường. Sự hấp dẫn còn nằm ở những cách tân đáng kể về thủ pháp nghệ thuật. Để mang đến một “hiện thực ngoại cỡ”, một “thực tại thứ ba” trong tác phẩm, Mỹ Latinh nổ lực chuyển tải bằng một “hình thức ngoại cỡ” tương ứng. Nhà văn viết tác phẩm như dấn thân vào cuộc phiêu lưu, vừa sử dụng ngôn từ như bản năng, vừa tìm kiếm những biểu hiện mới, kiểu ngôn ngữ mới: sinh động, dân dã, nhưng hàm xúc và tiêu biểu cho đặc trưng trữ tình, tính nồng nhiệt Mỹ Latinh. Trong truyện ngắn hiện thực huyền ảo, cuộc phiêu lưu trở thành cuộc hợp lưu giữa các ngôn ngữ.

Có thể nói, kết cấu đặc trưng của thể loại truyện ngắn hiện thực huyền ảo đã tạo nên một tác động thẩm mỹ lớn đối với người đọc. Tác phẩm kích thích trí tưởng tượng, khả năng mơ mộng, khơi dậy khoái cảm của việc suy tư, truy tìm cái huyền ảo. Hơn thế, truyện ngắn hiện thực huyền ảo đặt lại những vấn đề của hiện thực, đặt lại câu hỏi: đâu là thực tại đích thực, có hay không thực tại duy nhất? Sáng tạo văn chương nhằm khai sinh ra một thế giới mới. Và sáng tạo của văn học Mỹ Latinh là đưa ranh giới của chủ nghĩa hiện thực đi xa hơn, mở rộng chân trời văn chương mà con người luôn tìm kiếm.

LNP


Tài liệu trích dẫn
[1] Tzvetan Todorov, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội, trang 35
[2] Tzvetan Todorov, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội, trang 54
[3] Tzvetan Todorov, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) (2008), Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội, trang 57
[4] Phùng Văn Tửu (2010), Tiểu thuyết trên con đường đổi mới nghệ thuật, NXB Tri thức, Hà Nội, trang 43
[5] Guy Scarpetta, Julio Cortazar, Thuật sĩ kì ảo của văn chương Nam Mỹ, http://www.hopluu.net/default.aspx?LangID=0&tabId=515&ArticleID=981
[6] Tzvetan Todorov, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch) (2004), Thi pháp văn xuôi, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội, trang 107
[7] Bruce Holland Rogers, “Thực ra chủ nghĩa Hiện thực thần kì là gì?” Nguồn: http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=4751
[8] Bruce Holland Rogers, “Thực ra chủ nghĩa Hiện thực thần kì là gì?” Nguồn: http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=4751
[9] Phùng Văn Tửu (2010), Tiểu thuyết trên con đường đổi mới nghệ thuật, NXB Tri thức, Hà Nội, trang 293
[10] Nguyễn Trung Đức dịch (2001), Jorge Louis Borges tuyển tập, NXB Đà Nẵng, trang 89
[11] Lê Nguyên Long (2006), “Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9, trang 40, Viện Văn học, Viện KHXHVN, Hà Nội
[12] Peter Vail (1999), “Điệu Tango phương Nam”, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, Hội Nhà văn Việt Nam.
[13] Peter Vail (1999), “Điệu Tango phương Nam”, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, Hội Nhà văn Việt Nam.


Nguồn: Tạp chí đại học Sài Gòn - Bình luận văn học, niên giám 2011
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.