Công bố kết quả nghiên cứu đề tài: “Vấn đề nhà ở và môi trường sống khu dân cư nghèo TP.HCM”

Sáng thứ bảy ngày 21/09/2013, Trường ĐH KHXH &NV TP.HCM đã tổ chức buổi công bố kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài “Vấn đề nhà ở và môi trường sống khu dân cư nghèo TP.HCM” tại phòng A001, do TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan, trưởng nhóm dự án – Trưởng khoa Xã hội học công bố kết quả nghiên cứu của dự án.

Sáng thứ bảy ngày 21/09/2013, Trường ĐH KHXH &NV TP.HCM đã tổ chức buổi công bố kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài “Vấn đề nhà ở và môi trường sống khu dân cư nghèo TP.HCM” tại phòng A001, do TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan, trưởng nhóm dự án – Trưởng khoa Xã hội học công bố kết quả nghiên cứu của dự án. Các kết quả nghiên cứu chính tập trung vào Nhà ở; Quan hệ xã hội của hộ gia đình; Môi trường sống; Chính sách vì người nghèo và những phản hồi từ các chính sách ấy.


TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan, Trưởng Khoa Xã hội học (người giữa)- Trường nhóm nghiên cứu báo cáo công bố đề tài.

Theo báo cáo, chính quyền TP.HCM đã triển khai nhiều chương trình nhằm cải tạo và phát triển nhà ở. Tuy nhiên quá trình thực hiện các chính sách này chưa mang lại hiệu quả như mong muốn vì đang chịu sự tác động của không ít những vấn đề mang tính thách thức. Nếu không thực hiện được những chính sách ấy một cách hiệu quả thì vấn đề môi trường sống của người nghèo ngày càng trầm trọng hơn. Tình trạng xây dựng nhà ở thành phố đang diễn ra manh mún và tự phát, thực trạng lấn chiếm nhà ở trái phép và không phép còn cao trong lúc các quy định xử phạt và lực lượng thanh tra xây dựng còn chưa nghiêm khắc; công tác quy hoạch còn chậm do tầm nhìn, năng lực còn hạn chế, cơ chế xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp còn chưa hoàn thiện dự án “Xây dựng năng lực của cộng đồng và chính quyền trong việc tham gia cải thiện điều kiện sống tại những khu dân cư nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh” – đây là dự án hợp tác giữa trường ĐH KHXH&NV & tổ chức Rosa Luxemburg Stiftung (Đức)
Dự án nghiên cứu hướng tới mục tiêu tìm hiểu về đời sống kinh tế như việc làm, thu nhập, điều kiện sống của người dân khu dân cư nghèo, điều kiện chỗ ở và tiện nghi sinh hoạt của người dân. Ngoài ra, việc phân tích các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến đời sống của họ cũng như những hệ quả cũng được xem xét một cách chính xác. Đánh giá tác động của các chính sách, phân tích các điểm mạnh và yếu của các dịch vụ hỗ trợ, và lượng giá làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ cũng được nhóm nghiên cứu tính đến.
Qua gần 1 năm nghiên cứu thực địa tại 5 quận (Gò Vấp, Bình Tân, Bình Chánh, Quận 8, Quận 4) và 9 phường (Bình Trưng Đông, Bình Hưng Hòa A, Phường 1,15, quận 8, phường 15,16 Gò Vấp, phường 1 quận 4, Đa Phước, Phong Phú), với phương pháp nghiên cứu xã hội học, với các dữ liệu định lượng được sử dụng để phác thảo bức tranh toàn cảnh về tình trạng nhà ở ở TPHCM, cũng như về điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến đời sống của người nghèo. Các thông tin phỏng vấn sâu được sử dụng để lý giải các thông tin chuyên sâu về thực trạng đời sống của các hộ gia đình. Với 500 hộ gia đình đã được khảo sát, kết quả nghiên cứu đã thể hiện một cái nhìn khác quát về nghèo đô thị. Số hộ gia đình này được chọn ra trên cơ sở mẫu chỉ tiêu với tiêu chí là những hộ gia đình đại diện cho những khu dân cư nghèo theo tỷ lệ 100 hộ gia đình cho mỗi quận. Đối tượng trực tiếp trả lời bảng hỏi là các nam và nữ chủ hộ.
Số liệu nghiên cứu đã được xử lý cho thấy các vấn đề về nhà ở và môi trường sống khu dân cư nghèo tại TP.HCM cần có cái nhìn khác như sau:
Các vấn đề về thu nhập; học vấn và thu nhập; thu nhập & chi tiêu; thực trạng nhà ở; điều kiện vệ sinh môi trường:
- Về thu nhập,các hộ trong diện khảo sát đều thuộc thu nhập thấp và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Có 80% hộ có mức thu nhập trung bình khoảng 500.000 VND đến 3.000.000 tháng. Có khá ít số hộ có thu nhập trên 3 triệu đồng (chiếm 8,2%) và hộ có thu nhập dưới 500 nghìn đồng. Có hơn 90% trong tổng những trường hợp được hỏi không đủ sống khi đối diện với cuộc sống và những nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình chỉ với dưới 3 triệu đồng mỗi tháng. Các trường hợp thu nhập thấp hơn rơi vào các quận vùng ven như Bình Tân, Bình Chánh, trong khi đó thu nhập bình quân đầu người ở quận nội thị thì cao hơn. Nhóm tuổi trẻ hơn có thu nhập trung bình hàng tháng cao hơn (1986, 1815, 1783, 1466, 1270), 45% hộ thuộc nhóm cao niên (trên 60 tuổi) có thu nhập dưới 1 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi đó tỷ lệ nhóm trẻ (16-30 tuổi) có thu nhập trên 2 triệu đồng khá cao (chiếm 52%); tiếp theo là nhóm 31-40 tuổi và 41-50 (chiếm 34%); gần 20% nhóm 51-60 tuổi có thu nhập trên 2 triệu, tỷ lệ này ở nhóm trên 60 tuổi là 15%.
- Học vấn và thu nhập: Những công việc cần có tay nghề như kĩ sư, công nhân kĩ thuật điện – điện tử, thợ mộc, thợ may… có thu nhập hàng tháng khá ổn định từ 1 triệu đến 3 triệu đồng/ người/ trên tháng chiếm tỷ lệ 80%, 100% và 88%. Thu nhập dưới 1 triệu đồng rơi vào nhóm nông nhân (chiếm 41,7%), lao động làm thuê (gần 45%), nội trợ (26%) và nhóm người già, nghỉ hưu.
- Về thu nhập và chi tiêu: Nhận định của người dân về điều kiện sống trong tương lai khá bi quan. Thu nhập của người nghèo trong các cộng đồng được khảo sát thấp hơn so với chuẩn thu nhập của người nghèo. Nhiều người phải vậy mượn nợ để đáp ứng cho nhu cầu sống của họ. Các đặc điểm về nhân khẩu học như giới, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, và nơi cư trú có ảnh hưởng rõ nét đến tình hình thu nhập, vay mượn nợ và chi tiêu của các hộ gia đình nghèo cũng như nhận định của họ về tương lai tuy ở các mức độ, khoảng cách và đặc điểm khác nhau. Bức tranh về những cộng đồng nghèo này nhìn chung không được tươi sáng lắm, và rất cần có những hỗ trợ để giúp cải thiện điều kiện sống như cải cách chính sách hỗ trợ phù hợp với các nhóm đối tượng này.
- Về thực trạng nhà ở: Tình trạng cư trú hiện tại cũng có mối quan hệ với việc sở hữu nhà. Những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những người nhập cư gặp rất nhiều khó khăn khi sống ở thành phố lớn. Do thu nhập thấp, họ phải sống trong những căn hộ thuê chật hẹp, ở những nơi mà tình trạng vệ sinh, môi trường và an ninh đều không đảm bảo (Đặng, 1998). Nghiên cứu này cũng ghi nhận kết quả tương tự, khi có đến 35,4% hộ tạm trú sống trong nhà thuê, trong khi tỷ lệ này chỉ có 1,2% ở hộ thường trú…, 35,4% hộ tạm trú sống trong nhà thuê, trong khi tỷ lệ này chỉ có 1,2% ở hộ thường trú. Mối liên hệ giữa các biến và trình trạng sở hữu nhà ở. Có hơn 90% hộ trong mẫu khảo sát có nhà riêng. Tuy nhiên, đa số là nhà cấp 4 (68,1%). Hầu hết các hộ nghèo trong địa bàn khảo sát đều đang cư ngụ trong loại nhà cấp 4 (68,1%). Gạch và đá là hai loại vật liệu chính được sử dụng để xây nhà. Tỷ lệ hộ sống trong nhà cấp 3 chỉ có 25,4%. Kết quả trong cuộc nghiên cứu này phù hợp với những nghiên cứu trước đây về các nhóm thu nhập thấp ở đô thị, trong đó chỉ ra rằng người nghèo thường sống trong những khu vực có hạ tầng cơ sở kém phát triển và nhà ở của họ có giá trị kinh tế thấp. Có thể họ sống ở khu vực trung tâm thành phố nhưng thường là khu vực cũ kĩ và xuống cấp. Yếu tố thu nhập cũng có tác động đến loại nhà ở cũng như việc có cơ hội sử dụng nước sạch dễ dàng hơn. Có mối liên hệ giữa diện tích nhà và tình trạng cư trú của hộ. Những hộ tạm trú thường sống trong những căn nhà nhỏ hơn hộ thường trú.Ngoại trừ loại nhà 31 – 60 m2 có tỷ lệ cao khá tương đồng giữa hai nhóm thường trú và tạm trú (40,2% và 40,7%), trên 25,7% hộ tạm trú sống trong những ngôi nhà có diện tích 11 - 20 m2, và 9,7% có nhà diện tích nhỏ hơn 10 m2.. Tỷ lệ tương ứng đối với nhóm thường trú là 14,2% và 1,9%.
- Về điều kiện vệ sinh và môi trường, hơn 37% hộ được phỏng vấn cho biết hộ của họ có xả nước thải trực tiếp xuống kênh rạch vì trong nhà không có hệ thống cống thoát nước. Ngoài ra, có 10% hộ thường xuyên xả/thải nước ra đường. Chỉ khoảng 50% hộ có hệ thống cống thoát nước trong nhà.Khoảng 14,4% hộ sống ở nơi thường xuyên ngập nước, 45% hộ sống ở khu vực thỉnh thoảng bị ngập úng, chỉ có 34,8% cho biết nơi họ cư ngụ không bao giờ ngập.
Dù chính quyền đã có bảng cấm, nhưng rác thải vẫn bị lén lút đổ xuống kênh. Ảnh: Nhóm nghiên cứu

Chính sách vì người nghèo và những phản hồi từ các khu vực nghèo đô thị TP.HCM
Trong thập niên 90, Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng gần 40.000 nhà ở tự phát mọc lên ven các kênh rạch, khu quy hoạch, hoặc trong các khu đất nghĩa trang. Đáng chú ý là, những hộ dân trong các khu vực khó khăn này đều có trình học vấn thấp hoặc thậm chí là mù chữ. Do tính chất công việc, thu nhập và chi tiêu của người dân nơi đây không ổn định.Tình trạng bần cùng hóa và tệ nạn xã hội như mại dâm, nghiện chích ma túy, trộm cướp, bạo lực, cờ bạc… trở thành các vấn đề nỗi cộm ở những địa bàn này trong thời gian dài và thu hút sự chú ý quan tâm của chính quyền địa phương.
Trước năm 2000 những nơi này có tên là “địa bàn ba không”, nghĩa là không có hạ tầng cơ sở, không có điện nước, không có hệ thống tiêu thoát nước. Tuy nhiên, hơn 10 năm qua, những “địa bàn ba không” này đã liên tục nhận được sự hỗ trợ của chính quyền trong khuôn khổ chương trình “cải tạo và chỉnh trang đô thị”, mang lại điều kiện hạ tầng cơ sở tốt hơn. 
Chương trình xây dựng nhà ở cho người nghèo, cho hộ gia đình có công với cách mạng tăng lên nhưng vẫn còn ít, hạn chế.Thu nhập của cư dân trong địa bàn nghiên cứu thường không chính thức, thiếu ổn định do trình độ tay nghề thấp. Họ thường là những lao động tự do như bán hàng ăn ngay trong khu dân cư, trên vỉa hè, bán vé số, thợ hồ, thợ sửa xe gắn máy, lao động phổ thông. Thu nhập không ổn định, và luôn chịu áp lực của tình trạng kinh tế đô thị biến đổi nhanh.
Các thủ tục hành chính trong việc thực thi các chính sách liên quan trực tiếp đến đời sống người dân còn nhiều hạn chế. Trong một cuộc thảo luận nhóm ở quận 8, quận 4 và và quận Gò Vấp, người dân cho biết “chúng tôi không hài lòng với thái độ của cán bộ công chức trong khi tiếp dân. Vì vậy, chúng tôi thích phản ánh trực tiếp ý kiến của chúng tôi với người lãnh đạo trong khu dân cư hơn, mà không cần thông qua bất kì cán bộ nào cả”. Theo đó, lãnh đạo khu phố trở thành trung gian giữa cán bộ địa phương và người dân cấp cơ sở để ghi nhận các phản hồi và xúc tiến các chính sách vì người nghèo. Vì vậy, có thể nói vai trò của người trung gian này rất quan trọng trong viêc thực thi chính sách.
Cách đối thoại này giữa người dân cấp cơ sở và cán bộ dường như không hiệu quả vì trong thực tế không có nhiều đề xuất cũng như ý kiến phản hồi từ người đi trước được người đi sau quan tâm chú ý tới. Ô nhiễm môi trường, tiếng ồn, ngập lụt trong khu dân cư và nhiều vấn đề khác nữa vẫn không thay đổi trong nhiều năm. Kết quả là, kiểu đối thoại này trở nên mờ nhạt trong những năm gần đây cùng với sự suy giảm sự tin tưởng của người dân vào cả cán bộ và những người trung gian. Chính các cán bộ địa phương cũng nhận ra thực trạng này:“Mối quan hệ giữa cán bộ hành chính và người dân trở nên kém đi trong những năm gần đây. Có một số chương trình, chính sách quan trọng có liên quan đến mối quan tâm của người dân như phòng chống ngập lụt bằng cách nâng cấp đường, hẻm, cải tạo hạ tầng cơ sở, chương trình cho người nghèo vay tín dụng để mở tiệm làm ăn buôn bán… Tuy nhiên, khi chúng tôi mở các cuộc họp để thông tin về những chương trình này có rất ít người dân đến tham dự, chỉ khoảng trên dưới 10 người tham dự trong tổng số hàng trăm hộ gia đình”
Với qui trình ban hành và thực thi chính sách xã hội của chính quyền địa phương – theo quan điểm từ trên xuống: Các vấn đề về thủ tục hành chính; Các vấn đề hạ tầng cơ sở về nhà ở và phòng chống ngập lụt; Chính sách thu nhập và việc làm cho người nghèo; Giáo dục và đào tạo nghề cho người nghèo; Chính sách bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe vẫn còn nhiều bất cập, gây cho người dân sự phiền hà. Do đó cần, áp dụng thêm qui trình thực hiện chính sách xã hội của chính quyền địa phương – theo quan điểm tự dưới lên: Các thủ tục hành chính và mối quan hệ giữa công chức và người dân; Các chương trình về hạ tầng đô thị, nhà ở và phòng chống ngập úng; Các chương trình hỗ trợ việc làm, dạy nghề và tăng thu nhập; Chính sách giáo dục; Các chương trình chăm sóc sức khỏe, được giải quyết dựa vào ý kiến của người dân, xem xét với các qui định ban hành để đi tới giải quyết các vấn đề một cách thống nhất.
Tại buổi công bố, PGS.TS. Trần Thị Kim Xuyến, đề nghị với Khoa Xã hội học công bố và hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu các số liệu này, để giúp các nhà hoạch định, nhà nghiên cứu có thêm số liệu để nghiên cứu, đưa ra chính sách giải quyết phù hợp với người dân. Giúp người dân ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực giảm nghèo cho gia đình mình.
TS. Nguyễn Thị Hồng Xoan cũng mong muốn các số liệu nghiên cứu này được các nhà nghiên cứu, các giảng viên trẻ phân tích thêm các vấn đề do cuộc nghiên cứu mang lại ứng dụng vào công tác giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời có thêm số liệu thực tế để cung cấp cho sinh viên các bài học cần thiết trong quá trình học tập tại nhà trường.

Phòng QLKH – Dự án
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.