Trần Thị Mai Nhân. Những đối mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỉ XX

Tiểu thuyết là thể loại được coi là “cỗ máy cái” của văn học. Từ khi ra đời đến nay, tiểu thuyết có một lịch sử dài nhiều biến đổi thăng trầm. Những năm 60 của thế kỉ XX, trên thế giới, người ta hoang mang, lo lắng bàn đến “sự hấp hối” và “cái chết” của tiểu thuyết, thậm chí có người còn “nguyện cầu cho tiểu thuyết” và mong tìm ra phương thuốc để nó hồi sinh. Nhưng thực tế cho thấy, từ đó đến nay, tiểu thuyết vẫn tồn tại và phát triển trong sự quan tâm nồng nhiệt của độc giả và giới làm văn học.


Tuy sinh sau đẻ muộn, tiểu thuyết Việt Nam cũng đã trải qua một hành trình nhọc nhằn với những cuộc cách tân đầy ý thức của các nhà văn và đã trở thành thể loại trung tâm, có vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc. Trong quá trình phát triển, tiểu thuyết Việt Nam đã có những lúc “được mùa” lớn, đặc biệt, là sau 1986, tiểu thuyết có nhiều tìm tòi đổi mới và đạt được những thành tựu đáng kể.

Trước tình hình ấy, đã có không ít những công trình nghiên cứu, những bài báo, những cuộc hội thảo về tình hình văn xuôi nói chung và tiểu thuyết sau 1975 nói riêng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu Những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỉ XX (1986 – 2000). Đó là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những ai quan tâm đến văn học đương đại. Với mong muốn hết sức khiêm tốn là cung cấp cho người học tập, nghiên cứu một cái nhìn hệ thống về tiểu thuyết giai đoạn 1986 –2000 và nhận diện, khẳng định những đóng góp của thể loại văn học này vào tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, chúng tôi đã thực hiện chuyên luận này.

Chuyên luận tập trung nghiên cứu những đổi mới của tiểu thuyết. Trong đó, chúng tôi chọn khảo sát những yếu tố đổi mới nổi bật nhất, những phương diện được xem là đặc trưng nhất cho thể loại văn học này. Dù không nghiên cứu lịch sử thể loại nhưng để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề về tiểu thuyết như: nguyên nhân dẫn đến sự đổi mới của tiểu thuyết giai đoạn này, những dấu hiệu đổi mới đầu tiên, những tìm tòi về kĩ thuật tiểu thuyết, những tác giả – tác phẩm đã đóng góp kinh nghiệm sáng tạo cho thể loại.

Về tác giả, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những cây bút được coi là tiên phong trong công cuộc đổi mới tiểu thuyết giai đoạn này như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Chu Lai, Dương Hướng, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái…

Về tác phẩm, chúng tôi nhận thấy, số lượng tiểu thuyết được viết trong 15 năm cuối thế kỉ XX (từ 1986 – 2000) rất lớn, chưa có giai đoạn nào trước đây so sánh được, nhưng trong phạm vi chuyên luận, chúng tôi chỉ chọn những tác phẩm hay, có tính cách tân, được dư luận thừa nhận như: Thời xa vắng, Thiên sứ, Bên kia bờ ảo vọng, Đi về nơi hoang dã, Chim én bay, Góc tăm tối cuối cùng, Đám cưới không có giấy giá thú, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ăn mày dĩ vãng, Bến không chồng, Lời nguyền hai trăm năm, Cơ hội của Chúa… Ngoài ra, một số tác phẩm chưa thật sự hay nhưng có dấu hiệu đổi mới về thể loại, chúng tôi cũng chọn làm đối tượng khảo sát (Chuyện làng ngày ấy, Ngày thứ 7 u ám, Chuyện làng Cuội…).

Phạm vi nghiên cứu của chuyên luận được giới hạn trong những tiểu thuyết xuất bản ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2000. Sở dĩ chúng tôi chọn giới hạn thời gian như vậy vì năm 1986 được xem là mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện của đất nước, trong đó có văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng; năm 2000 là thời điểm kết thúc thế kỉ XX, mở ra một thiên niên kỉ mới cho dân tộc. Mặt khác, từ đoản thiên tiểu thuyết Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887), sau đó là tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) đến nay, tiểu thuyết hiện đại đã trải qua hơn một trăm năm hình thành và phát triển, với không ít những lần “thoát kén”, và có những đóng góp có ý nghĩa cho văn học nước nhà. Như vậy, xét quá trình vận động và phát triển của thể loại, ta có thể chọn năm 2000 làm thời điểm kết thúc sự phát triển của tiểu thuyết thế kỉ XX. Tất nhiên, các mốc được chọn cho việc khảo sát cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Vì hiện tượng đổi mới tiểu thuyết không chờ đến 1986 mà đã được chuẩn bị khá sớm vào nửa đầu những năm 80 với một số tác giả có vai trò tiền trạm như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Đoàn Lê… Và mốc 2000 cũng không có ý nghĩa khép lại giai đoạn này, bởi sau 2000, tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ. Điều này thể hiện qua nhiều cuộc thi, với các giải thưởng và nhiều tác phẩm gây được sự chú ý trong dư luận.

Vì vậy, ngoài những tác phẩm được chọn khảo sát, chúng tôi cũng đề cập đến một số tiểu thuyết ra đời trước năm 1986 như là bước chuẩn bị cho sự đổi mới tiểu thuyết giai đoạn này: Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985) của Nguyễn Mạnh Tuấn; Cha và con và… (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) của Nguyễn Khải, Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) của Ma Văn Kháng, Đêm miền đông (1983) của Hoàng Lại Giang…), đồng thời cũng tìm hiểu một số tiểu thuyết ra đời sau năm 2000, như là “thể nghiệm” của tiểu thuyết những năm đầu thế kỉ XXI: Cõi người rung chuông tận thế (2002), Người đàn bà trên đảo (2003) của Hồ Anh Thái, Thoạt kì thuỷ (2004) của Nguyễn Bình Phương, Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh, Giữa vòng vây trần gian (2004) của Nguyễn Danh Lam, Dòng sông mía (2004) của Đào Thắng… Ngoài ra, để bạn đọc có cái nhìn tương đối toàn diện về sự vận động, đổi mới của văn học Việt Nam thời kỳ này, một số truyện ngắn, truyện dài, kí,… của giai đoạn này cũng được chúng tôi “điểm mặt”.

Để thực hiện chuyên luận này, chúng tôi đã tìm đọc gần như đầy đủ các tiểu thuyết Việt Nam xuất bản trong 15 năm cuối thế kỉ XX (1986 – 2000), đọc những tiểu thuyết tiêu biểu của giai đoạn trước (1887 – 1945, 1945 – 1975, 1975 – 1985) và tiểu thuyết từ 2000 đến nay, đồng thời cũng tìm đọc một số tiểu thuyết nổi tiếng của nước ngoài có sự đổi mới kĩ thuật tiểu thuyết. Qua khảo sát những yếu tố đổi mới của tiểu thuyết trên bình diện tổng thể (một giai đoạn) và trên phương diện cụ thể (từng tác phẩm), triển khai thành một hệ vấn đề, chúng tôi muốn góp phần nhận diện con đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam và đóng góp của tiểu thuyết 15 năm cuối thế kỉ XX vào tiến trình hiện đại hoá của văn học dân tộc. Kế thừa những thành tựu có trước, bước đầu vận dụng những phương pháp tiếp cận mới của khoa nghiên cứu văn học, đồng thời học tập một số kinh nghiệm nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà phê bình như M. Bakhtin, Roland Barthes, IU. M. Lotman…, chuyên luận cũng đem lại cho người đọc một cái nhìn mới mẻ về tiểu thuyết Việt Nam 15 năm cuối thế kỉ XX.

Tuy nhiên, nếu có điều kiện mở rộng phạm vi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thể loại, chắc chắn chuyên luận sẽ có đóng góp nhiều hơn về mặt khoa học cũng như về thực tiễn ứng dụng. Đó cũng là mong muốn và hi vọng của chúng tôi trong tương lai.

Lần đầu tiên được ra mắt bạn đọc, chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi sai sót. Rất mong độc giả lượng thứ và đóng góp ý kiến để những lần tái bản sau được hoàn thiện hơn.

TPHCM, tháng 05 năm 2014
Trần Thị Mai Nhân

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.