GS. Huỳnh Như Phương: Khoa học ngữ văn – kế thừa và phát triển

KHOA HỌC NGỮ VĂN – KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN

Huỳnh Như Phương


Ngành Ngữ văn của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh ngày nay vốn được hình thành vào năm 1975 trên cơ sở hợp nhất các ban Văn chương Việt Nam, Hán văn và Ngữ học thuộc Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, với sự tăng cường của các giảng viên từ các trường đại học và viện nghiên cứu ở Hà Nội. Xuất phát từ một đơn vị thống nhất, Khoa Văn học và Bộ môn Ngôn ngữ học ngày nay cần tự khẳng định mình không chỉ bằng những thành tích trong giảng dạy mà còn bằng những công trình nghiên cứu được công bố rộng rãi trong nước và bước đầu ở nước ngoài. Đó cũng là định hướng cần thiết của ngành Ngữ văn trong sự phát triển của một trường đại học nghiên cứu.

Từ khóa: Khoa học ngữ văn, Khoa Văn học, Bộ môn Ngôn ngữ học.




The Philology in the USSH-VNU: Inheritance and Development



The philological studies in the University of Social Sciences and Humanities – National University of Ho Chi Minh City (USSH-VNU HCMC) is now carried out by the Faculty of Literature and the Department of Linguistics. In 1975, the Department of Philology was established through integrating the three departments of the Faculty of Letters at Saigon University, which were Vietnamese Literature, Sinology and Linguistics. It was also complemented by the teaching and researching staff coming from the universities and research institutes of Hanoi and later became a faculty, which changed its name several times, and this year was separated into the Faculty of Literature and the Department of Linguistics as two independent sections belonging to USSH-VNU. In present day, the Faculty of Literature and the Department of Linguistics aim to self-affirmation not only by the teaching achievements but also by the researching results which can be published in Vietnam and oversea, that are necessary orientations of the philological studies to be aligned with the the development of the USSH-VNU as a research university.
Keywords: philology, Faculty of Literature, Department of Linguistics

Tóm tắt tiếng anh

Hình thành trên cơ sở hợp nhất các ban Việt văn, Hán văn và Ngữ học thuộc Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, với sự tăng cường của các giảng viên từ các trường đại học và viện nghiên cứu ở Hà Nội, Bộ môn Ngữ văn Việt Nam lần lượt trở thành Khoa Ngữ văn Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Khoa Ngữ văn và Báo chí, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, nay là hai đơn vị độc lập thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH-NV) - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Ngành đào tạo này tự khẳng định mình không chỉ bằng những thành tích trong giảng dạy mà còn bằng những công trình nghiên cứu được công bố rộng rãi trong nước và bước đầu ở nước ngoài.
Dễ chừng không ở đâu trên đất nước này, vào những năm tháng sau ngày 30/4/1975, có một đơn vị giáo dục tập hợp được nhiều nhà giáo xuất thân từ các nguồn đào tạo đa dạng như vậy. Đơn vị giáo dục này tự tạo nên bản sắc của mình trước hết bằng sự dung hợp và tôn trọng những tiếng nói riêng trong khoa học, có trao đổi, tranh luận, nhưng bao giờ cũng dành không gian sáng tạo cho những người hoạt động trên lĩnh vực khoa học nhân văn. Nhờ vậy, thành tựu của ngành Ngữ văn được xây dựng từ sự góp sức bởi các thế hệ giảng viên – nhà nghiên cứu nối tiếp nhau trong bối cảnh một nền giáo dục và học thuật sau chiến tranh, vừa kế thừa con đường của ngành ngữ văn nước nhà, vừa nỗ lực đổi mới để hội nhập với thế giới hiện đại.

Ngày nay, kết quả nghiên cứu của thế hệ nhà giáo về ngữ học và văn học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn vẫn được trân trọng đón nhận và lưu giữ: tên tuổi các giáo sư Bửu Cầm, Nghiêm Toản, Bùi Xuân Bào, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Nguyễn Khắc Hoạch, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Lý, Nguyễn Hưng, Trần Trọng San, Đỗ Khánh Hoan, Phạm Văn Diêu, Lưu Khôn, Nguyễn Tri Tài, Nguyễn Khuê, Phạm Hữu Lai, Nguyễn Thiên Thụ, Nguyễn Văn Sâm, Huỳnh Minh Đức, Trần Đức Rật.… luôn được ghi nhớ trong sinh hoạt học thuật. Ở miền Nam trước đây, nói đến nghiên cứu chữ Nôm - phải nhắc Bửu Cầm, nghiên cứu triết học và lý luận văn học phương Tây - phải nhắc Nguyễn Văn Trung, chính tả Việt ngữ - phải nhắc Lê Ngọc Trụ, nghiên cứu và dịch thơ Đường - phải nhắc Trần Trọng San, lịch sử văn học Việt Nam - phải nhắc Thanh Lãng và Phạm Văn Diêu, ngữ học cấu trúc - phải nhắc Phạm Hữu Lai…
Trong giảng dạy và nghiên cứu, các giảng viên và sinh viên không chỉ thừa hưởng những công trình giá trị được tái bản như Tầm nguyên tự điển Việt Nam của Lê Ngọc Trụ, 13 năm tranh luận văn học của Thanh Lãng, Thơ Đường của Trần Trọng San, Chân dung Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Khuê, Hò Huế của Lê Văn Chưởng… mà còn tiếp thu cả một tài sản quý giá là phòng tư liệu Hán Nôm do Đại học Văn khoa Sài Gòn để lại. Đặc biệt, chính trong thời gian làm việc tại trường sau năm 1975, các nhà giáo đã thai nghén và hoàn thành một số tác phẩm mới: Nguyễn Văn Trung với Câu đố Việt Nam, Trương Vĩnh Ký – nhà văn hóa, Hồ sơ Lục Châu học; Nguyễn Khuê với Những vấn đề cơ bản của chữ Nôm, Khổng Tử - chân dung, học thuyết và môn sinh, Luận lý học Phật giáo; Nguyễn Tri Tài với Giáo trình tiếng Hán…
Các giáo sư từ Trường Đại học Tổng hợp và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, vốn đã khẳng định tên tuổi và sự nghiệp ở miền Bắc, khi vào công tác tại TP. Hồ Chí Minh có thêm một mùa thu hoạch về khoa học với những công trình mới mẻ về tư liệu, cách nhìn và phương pháp; đem lại những đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực lý luận văn học, ngôn ngữ học, văn học Việt Nam và văn học nước ngoài.
Trong những năm tháng ở đây, Lê Đình Kỵ đã viết lại giáo trình văn học đại cương và bàn thêm về Thơ Mới dưới cái nhìn đổi mới. Hoàng Như Mai viết về nghệ thuật cải lương như một đặc sản văn hóa của vùng đất mới. Trần Thanh Đạm bàn về văn học so sánh và là người đầu tiên đưa môn học này vào nhà trường khu vực phía Nam. Chu Xuân Diên luôn cập nhật những lý thuyết và phương pháp mới trong văn hóa học và văn hóa dân gian. Mai Cao Chương - cùng với Đoàn Lê Giang - bổ sung vào lịch sử văn học dân tộc một tác gia canh tân độc đáo: Nguyễn Lộ Trạch. Nguyễn Lộc từ một chuyên gia hàng đầu về văn học cổ điển Việt Nam thế kỷ 18-19 trở thành một nhà nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật hát bội. Lương Văn Hồng chuyên tâm về văn hóa, ngôn ngữ và văn học Đức. Thái Thu Lan giới thiệu những kết quả nghiên cứu mới về văn học Pháp thế kỷ 19. Lương Duy Thứ soi chiếu thơ Đường và Lỗ Tấn dưới góc độ thi pháp học…
Là chuyên gia cao cấp về ngôn ngữ học thần kinh, Nguyễn Hàm Dương tiếp tục nghiên cứu về bệnh lý thất ngôn. Nguyễn Đức Dân hệ thống hóa và đào sâu những vấn đề ngữ dụng học, ngữ pháp tạo sinh, lô-gích và tiếng Việt. Bùi Khánh Thế tâm huyết với ngôn ngữ các tộc người thiểu số ở phía Nam và vấn đề giao lưu ngôn ngữ. Hồng Dân tham gia biên soạn giáo trình ngữ pháp tiếng Việt và viết sách giáo khoa ngữ văn. Đinh Lê Thư công bố chuyên khảo về cơ cấu ngữ âm tiếng Việt.
Khi thế hệ các nhà nghiên cứu nói trên lần lượt về hưu, đã xuất hiện nỗi lo về một khoảng trống trong đời sống học thuật của ngành Văn học và Ngôn ngữ học. Nhưng khoảng trống đó, nếu có, chỉ là sự hụt hẫng về tâm lý hơn là sự đứt đoạn trên thực tế. Đơn giản là vì nhiều giáo sư hàng đầu vẫn tiếp tục giảng dạy, hướng dẫn học viên và nghiên cứu sinh; đồng thời tài sản khoa học mà họ để lại vẫn được những thế hệ đến sau kế thừa và phát huy.
Với nhiều nỗ lực và sự cầu tiến, những giảng viên ở độ tuổi kế cận đã khẳng định chỗ đứng của mình không chỉ bằng những hoài bão khoa học mà còn bằng chính thành quả lao động nghề nghiệp cụ thể. Ở đây, chỉ xin phép kể tên những người đã có sách riêng hay từng tham gia biên soạn giáo trình, chuyên khảo được xuất bản: Đoàn Lê Giang, Nhật Chiêu, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Công Lý, Lê Trung Hoa, Nguyễn Công Đức, Lê Tiến Dũng, Đào Ngọc Chương, Võ Văn Nhơn, Nguyễn Nam, Nguyễn Ngọc Quận, Phan Thị Thu Hiền, Trần Thị Phương Phương, Nguyễn Văn Huệ, Đỗ Thị Bích Lài, Đoàn Ánh Loan, Trần Thị Thuận, Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Hữu Chương, Lê Khắc Cường, Nguyễn Ngọc Quang, Huỳnh Bá Lân, Trần Ngọc Hồng, Phan Xuân Viện, Nguyễn Thị Phương Trang, Trần Lê Hoa Tranh, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Đình Phức, Lê Quang Trường, Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Đông Triều, Phan Mạnh Hùng, La Mai Thi Gia, Đào Lê Na…
Trong hoạt động khoa học hiện nay, bên cạnh những nhà nghiên cứu đã có thành quả nhất định kể trên là những giảng viên trẻ đầy nhiệt huyết và sức cống hiến, nghiêm túc tiếp thu kinh nghiệm của học giới trong nước, một số từng được học tập từ các trung tâm khoa học tiên tiến trên thế giới, đang tìm tòi, thể nghiệm những cách tiếp cận mới để giải quyết những vấn đề mới trong nghiên cứu. Những người trẻ đang nối tiếp công việc trong lĩnh vực tinh tế và phức tạp này cũng là những người sẽ phác họa tương lai học thuật của ngành Văn học và Ngôn ngữ học. Họ đang nhận trên vai gánh nặng nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo theo những chuẩn mực của một đại học nghiên cứu ở Đông Nam Á.
Do đặc điểm lịch sử hình thành của mình, ghi dấu qua sự dung hợp giữa các quan niệm học thuật, có thể nhận thấy trong hoạt động khoa học ngữ văn những hướng đi vừa song hành, vừa kết hợp chặt chẽ với nhau. Một mặt, đó là việc khai thác và khảo cứu ngày càng sâu di sản văn học và ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là di sản Hán Nôm, để bắc cầu từ hiện đại đi về truyền thống và từ truyền thống làm giàu cho thời hiện đại. Mặt khác, đó là sự khiêm tốn học hỏi những lý thuyết ngữ văn, những phương pháp và tinh hoa văn học đang thịnh hành trên thế giới để vận dụng vào lãnh vực nghiên cứu luôn đòi hỏi sự nhạy bén và tinh tế này. Giảng viên đại học mà không có công trình, chỉ dạy chay với cái giáo án cũ từ năm này qua tháng nọ, chiêu dụ sinh viên bằng cách cho điểm cao, thì chỉ có thể xem là kẻ chọn lầm nghề.
Không phải ngẫu nhiên mà trong khoảng một thập niên gần đây, ngành Văn học và Ngôn ngữ học đã tập trung sức lực và suy nghĩ cho việc triển khai những công trình sưu tầm, nghiên cứu di sản văn học được lưu giữ bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ la-tinh hóa trên địa bàn các tỉnh phía Nam từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20. Bởi chính là ở đây, văn hóa dân tộc đã cho thấy sự gặp gỡ và tích hợp giữa truyền thống và cách tân, cổ điển và hiện đại, Đông phương và Tây phương đã diễn ra như thế nào. Về mặt này, những luận điểm khoa học được rút ra không phải là sự khái quát tiên nghiệm mà là kết quả của sự khảo chứng từ thực tiễn. Có thể nói mà không sợ quá lời rằng thời gian sẽ xác nhận đây là một trong những đóng góp hàng đầu của Trường ĐHKHXH-NV TP. HCM cho khoa học ngữ văn của đất nước.
Cùng hướng đi trên, nhưng được triển khai tuần tự hơn, và có lẽ đòi hỏi nhiều công sức và thời gian hơn để thực hiện kế hoạch điền dã, là chương trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian vùng Nam Bộ và ngôn ngữ các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên. Hơn bốn thập niên qua, công việc này vừa là một chương trình đào tạo thực tế bổ trợ cho sinh viên, vừa là một hoạt động phục vụ cộng đồng của thầy và trò ngành Ngữ văn. Những sản phẩm sưu tầm, ghi chép, khái luận về văn học dân gian địa phương; từ điển ngôn ngữ các tộc người thiểu số… thực sự là những đóng góp nhằm bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, việc các nhà giáo tham gia biên soạn sách giáo khoa được sử dụng trong nhà trường phổ thông nhiều năm qua, cũng có thể được đánh giá như một hoạt động khoa học thực tiễn, nhằm phục vụ thiết thực cho nền giáo dục mà tác động của nó sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng đào tạo ở bậc đại học.
Cũng trên tinh thần hội nhập với thế giới hiện đại, mười năm qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế về văn học, ngôn ngữ học đã được Trường ĐHKHXH-NV TP. HCM tổ chức, thu hút hàng ngàn nhà khoa học Việt Nam, Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đến tham dự. Đó là các hội thảo “Quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc”; “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á”; “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa”; “Kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du”; “Văn học Phật giáo - thành tựu và định hướng nghiên cứu”; “Chữ quốc ngữ: sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam”; “Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ”… Những cuộc hội thảo đó chứng tỏ khả năng liên kết và giao lưu quốc tế trong cộng đồng những nhà khoa học ngữ văn có uy tín và có trách nhiệm.
Và như vậy, trên hành trình khoa học của mình, ngành Ngữ văn vẫn giữ vững bản sắc của một lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu cơ bản, không vì chạy theo những mục tiêu ngắn hạn và có tính thời vụ mà xao lãng những vấn đề cốt yếu của khoa học. Đồng thời, môi trường học thuật ở đây cũng không phải là một thứ tháp ngà, xa lạ với xã hội, văn hóa, con người hiện đại hay bàng quan với những đòi hỏi đặt ra từ chính cuộc sống của đất nước.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khoa Văn học và Ngôn ngữ (2015). 40 năm dấu ấn những thế hệ. Kỷ yếu 40 năm hoạt động của khoa Văn học và Ngôn ngữ (Ngữ văn, Ngữ văn và Báo chí, 1975-2015), NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM.
2. Khoa Văn học và Ngôn ngữ (2015). Những vấn đề ngữ văn, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM.
3. Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ (2016). Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Quốc gia, do Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQG TP.HCM, Trường ĐH Thủ Dầu Một, Viện Văn học tổ chức ngày 28-10-2016 tại Trường Đại học Thủ Dầu Một, NXB. Đại học Quốc gia TP.HCM.
4. R. Jakobson (1960), Closing Statement: Linguistics and Poetics, in Style in Language, edited by Thomas A. Sebeok, p. 377. Cambridge, Mass.: MIT Press (Bản dịch của Cao Xuân Hạo).





Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.