GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, TS. Nguyễn Văn Hiệu: 60 năm đào tạo và nghiên cứu văn hóa: từ Đại học Văn khoa đến Đại học KHXHNV - ĐHQG TP. HCM

60 NĂM ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA:
TỪ ĐẠI HỌC VĂN KHOA ĐẾN ĐẠI HỌC KHXHNV - ĐHQG TP. HCM

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm*
TS. Nguyễn Văn Hiệu**


Từ Đại học Văn khoa Sài Gòn (1957) đến Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – ĐHQG TP.HCM hiện nay là một chặng đường dài của nghiên cứu và đào tạo tri thức, trong đó có nghiên cứu và đào tạo tri thức văn hóa.
Bài viết điểm lại sơ bộ những cột mốc chính trong lịch sử đào tạo và nghiên cứu tri thức văn hóa qua ba giai đoạn: Đại học Văn khoa Sài Gòn (1957-1975), Đại học Tổng hợp Tp. HCM (1977-1996), và Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp. HCM (từ 1996 đến nay).
Từ khóa: Sài Gòn. Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn


Abstract
60 years of training and researching on culture: From Saigon University of Letters to VNU- HCMC University of Social Sciences and Humanities
From Saigon University of Letters (1957) to VNU-HCMC University of Social Sciences and Humanities is a long way of researching and training of knowledge, including researching and training of cultural knowledge.
The article reviews the main milestones in the history of research and training of cultural knowledge through three stages: Saigon University of Letters (1957-1975), University of Ho Chi Minh City (1977-1996), and VNU-HCMC University of Social Sciences and Humanities (since 1996 to present).
Key words: Saigon, Ho Chi Minh City, University of Letters, University of Social Sciences and Humanities.


1. Dẫn nhập
Với tư cách là một ngành và một đơn vị đào tạo và nghiên cứu cấp bộ môn/ khoa thì Văn hóa học mới có mặt tại Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp. HCM từ những năm 2000. Song nếu xem xét với tư cách là một lĩnh vực tri thức thì việc đào tạo và nghiên cứu văn hóa đã có lịch sử từ thời Đại học Văn khoa.
Bài viết này có mục đích điểm lại sơ bộ những cột mốc chính trong lịch sử đào tạo và nghiên cứu tri thức văn hóa qua ba giai đoạn: Đại học Văn khoa Sài Gòn (1957-1975), Đại học Tổng hợp Tp. HCM (1977-1996), và Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp. HCM (từ 1996 đến nay) .
2. Đào tạo và nghiên cứu văn hóa ở Đại học Văn khoa
2.1. Đào tạo tri thức văn hóa
Tuy chưa có ngành đào tạo về văn hóa học và văn hóa Việt Nam, song trong giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam nói chung và Đại học Văn khoa Sài Gòn nói riêng, việc đào tạo tri thức về văn hóa Việt Nam rất được chú trọng, nhất là từ nửa sau những năm 1960, khi mà nhờ sự chuyển đổi từ mô hình giáo dục chịu ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, các giáo sư phát huy hết tinh thần tự do sáng tạo khoa học. Giáo sư Lê Xuân Khoa, người từng giảng dạy triết học phương Đông tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, giữ chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975), hồi tưởng lại: “Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế… Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng 'Việt Nho'” [Lê Xuân Khoa 2011].
Sinh viên thì rất hào hứng với cách học mới và với các môn học. Cũng theo GS. Lê Xuân Khoa, “Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo” [Lê Xuân Khoa 2011]. Ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, trong số bốn ban Văn, Sử, Triết Tây, Triết Đông, thì ban Triết Đông là nơi mà tri thức về văn hóa Việt Nam được cả thầy lẫn trò quan tâm nhiều nhất. Giáo sư Huỳnh Như Phương nhớ lại thời đi học của mình: “Để đến giảng đường học môn Văn minh Việt Nam, môn học thường phải đi sớm để giữ chỗ vì quá đông sinh viên nghe giảng, phải đi lên cầu thang cạnh một nhà vệ sinh luôn bốc mùi, đến nỗi có lần thầy Thanh Lãng nói đùa cái mùi đó là đặc trưng của Trường Văn khoa”; “Có lần, giờ tan học qua lâu, thầy Kim Định với chiếc áo dài trắng như một đạo sĩ, còn nán lại trên hành lang giải thích thêm cho chúng tôi về triết lý an vi” [Huỳnh Như Phương 2017]. Trong một cuộc trao đổi trực tiếp với chúng tôi về môn học này, ông nhiều lần nhắc đến các thầy Thanh Lãng, Kim Định, Phạm Việt Tuyền… với lòng biết ơn và kính trọng. Một số vở ghi chương trình và bài giảng môn văn minh Việt Nam đến nay ông vẫn còn giữ được.
Giáo sư Phạm Việt Tuyền phụ trách giảng dạy học phần phong tục có xuất bản cuốn “Cửa vào phong tục Việt Nam” (1974) như một giáo trình lưu hành nội bộ. Trên trang bìa sách có ghi: “Tài liệu học tập về văn minh Việt Nam dành cho sinh viên trường Đại học Văn khoa Sài Gòn (không bán ra bên ngoài)”. Nội dung sách (x. Hình 1) cho thấy giáo trình có cấu trúc rất thoáng, theo cách tiếp cận đa ngành với sự kết hợp giữa phương pháp lý thuyết (cấu trúc, được gọi là cơ cấu luận) với thực nghiệm (sử dụng các kỹ thuật điều tra xã hội học).
2.2. Nghiên cứu văn hóa
2.2.1. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn hóa một cách thực sự khoa học, bài bản được bắt đầu vào những năm 1930-1940 dưới ảnh hưởng của Pháp với các công trình “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (1938) và “Văn minh Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên (1944). Giai đoạn 1954-1975, hướng nghiên cứu văn hóa hầu như không còn được chú ý ở miền Bắc nhưng đã được tiếp tục duy trì ở miền Nam. Nó gần như bùng nổ ở Đại học Văn khoa Sài Gòn nói riêng và ở miền Nam nói chung từ những năm 1960 với những tên tuổi như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Kim Định, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, Bình Nguyên Lộc...; và trong thời gian này nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân tộc có giá trị đã được xuất bản.
Các thầy cô dạy văn minh Việt Nam ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, không phải ai cũng viết sách về lĩnh vực này. Trong số những giáo sư Đại học Văn khoa để lại sách vở nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, nổi bật hơn cả là hai vị: giáo sư Nguyễn Đăng Thục và giáo sư Kim Định.
2.2.2. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục (1909-1999) tốt nghiệp Kỹ sư hóa học (chuyên ngành nhuộm) ở Pháp. Sau khi về nước, mặc dù lúc đầu ông có hành nghề kỹ sư, mở xưởng máy, nhưng đam mê nghiên cứu khoa học xã hội đã thắng. Trong các năm 1953-1954, ông giảng dạy triết Đông và làm khoa trưởng Đại học Văn khoa Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Văn hóa Hiệp hội (bao gồm Hội Khai trí Tiến Đức và Văn Miếu) và chủ bút tạp chí Văn hóa tùng biên.
Năm 1954 vào Sài Gòn, ông tiếp tục giảng dạy triết học Đông phương tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Trong thời gian này, ông còn sáng lập và làm Chủ tịch Hội Việt Nam Nghiên cứu và Liên lạc Văn hóa Á châu, làm Chủ nhiệm và Chủ bút nguyệt san Văn hóa Á châu là cơ quan ngôn luận của Hội (tạp chí này có bản tiếng Anh mang tên Asian Culture xuất bản 3 tháng một lần). Từ năm 1961 đến năm 1964, GS. Nguyễn Đăng Thục đảm nhiệm chức Khoa trưởng Đại học Văn khoa Sài Gòn, đồng thời được Bộ Văn hóa cử làm Trưởng tiểu ban văn hóa của UNESCO Việt Nam (Cộng hòa).
Trong số các tác phẩm của GS. Nguyễn Đăng Thục, liên quan trực tiếp đến văn hóa và văn hóa Việt Nam có thể kể đến các công trình: Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (Hà Nội, 1950), Dân tộc tính (Sài Gòn, Văn hóa vụ, 1956), Triết lý văn hóa Việt Nam khái luận (Sài Gòn, Văn hữu Á Châu, 1956), Democracy in traditional Vietnamese society (Saigon, Department of National Education, 1960), Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á (Sài Gòn, Văn hóa Á Châu, 1961), Vietnamese Humanism (University of Hawaii Press, 1961), Tư tưởng Việt Nam (Sài Gòn, Khai Trí,1964), Asian Culture and Vietnamese Humanism (Sài Gòn, Văn hóa Á Châu, 1965), Lịch sử tư tưởng Việt Nam (4 tập, Sài Gòn, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, 1967-1970).
Phương pháp chính mà Nguyễn Đăng Thục sử dụng là phương pháp tổng hợp tri thức với cách tiếp cận đa ngành. Chỗ hạn chế là sản phẩm thu được có phần tản mạn, nội hàm khái niệm “văn hóa” bị hòa lẫn trong các tri thức địa lý, lịch sử, triết học, v.v. Lấy một cuốn “Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á” làm ví dụ, ta thấy sách dày 186 trang, chia làm 8 chương: I- Địa lý văn hóa Á châu; II- Danh từ Đông Nam Á; III- Địa lý nhân văn; IV- Đặc tính văn hóa chung Đông Nam Á; V- Khu vực Đông Nam Á với cuộc gặp gỡ Đông-Tây cận đại; VI- Đông Nam Á đứng trước cuộc cách mệnh kỹ nghệ Âu-Tây cận đại; VII- Tinh thần tam giáo trong văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á; VIII- Kết luận. Lại lấy một chương IV trong sách này ra xem thì thấy dưới tiêu đề chung rất hấp dẫn “Đặc tính văn hóa chung Đông Nam Á”, người đọc chưa tìm được những nội dung tương xứng, chưa thấy được đâu là đặc tính văn hóa chung của Đông Nam Á (x. hình 2).
Song, vào thời của mình, ý thức về nguồn và vai trò khai phá, mở đường đã là đóng góp rất lớn của tác giả. Trong bài viết “Triết nhân nhật viễn” (1999), GS. Nguyễn Khắc Hoạch (người kế nhiệm GS. Nguyễn Đăng Thục ở cương vị Khoa trưởng Đại học Văn khoa) đã nhắc lại một câu của Nguyễn Đăng Thục được nhiều người yêu thích: “Chúng ta chỉ có thể hoàn toàn là chúng ta, chỉ tự thể hiện được khi gìn giữ được gốc rễ của mình” [Quốc học 1999: 128]. Ngô Trọng Anh thì đánh giá: “Sự nghiệp văn hóa giáo dục của giáo sư [Nguyễn Đăng Thục] là một sự nghiệp vĩ đại của một thâm Nho coi nhẹ công danh (Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ)”, của một học sinh tiểu học quyến luyến đồng quê (Tư tưởng bình dân), của một nhà khoa học say mê đạo lý (Tinh thần khoa học đạo học), của một chí sĩ say sưa cách mạng (Dân tộc tính), của một tu sĩ Phật giáo thuần thành (Thiền học Trần Thái Tông, Thiền học Vạn Hạnh) [Quốc học 1999: 18].
2.2.3. Khác với sự điềm đạm ở Nguyễn Đăng Thục, nét nổi bật ở giáo sư Kim Định lại là sự năng động sáng tạo đến quyết liệt.
Trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Việt Nam, nếu như người đầu tiên viết chuyên khảo về văn hóa Việt Nam và bảo vệ lấy bằng tiến sĩ tại Pháp là Nguyễn Văn Huyên vào năm 1934 với hai luận án “Hát đối đáp nam nữ thanh niên ở An Nam” và “Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á”; người đầu tiên viết sách giáo khoa về văn hóa Việt Nam theo tiêu chuẩn phương Tây là Đào Duy Anh với cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” vào năm 1938, thì người đầu tiên làm nên một hiện tượng, gây nên một phong trào, và sống một cuộc đời không thể nói là suôn sẻ, ấy là Kim Định (1914-1997).
Nói “hiện tượng” là nói đến sự kiện, sự việc đặc biệt và bất thường. Điều bất thường thứ nhất về hình thức nằm ở chỗ Kim Định là người đầu tiên và cho đến nay vẫn giữ kỷ lục là người viết nhiều sách nhất về văn hóa Việt Nam. Nếu không kể 7 cuốn chưa in, 5 cuốn in rồi nhưng bị thất lạc, thì Kim Định có tổng cộng 32 cuốn sách mà ngày nay chúng ta có thể tiếp cận được . Trong đó có 20 cuốn được xuất bản trong giai đoạn 1965-1975, và 12 cuốn được xuất bản trong giai đoạn 1979-2000. Có hai năm ông xuất bản tới 4 quyển mỗi năm (1970, 1973) và hai năm ông xuất bản 3 quyển mỗi năm (1969, 1987). Điều bất thường thứ hai về nội dung nằm ở chỗ Kim Định là người đã đưa ra những “đề quyết động trời” (như người ta thường nói và chính Kim Định cũng thừa nhận): Ông khẳng định rằng người Việt là một sắc tộc đã đến ăn ở trên khắp nước Tàu trước người Hoa. Theo ông, người Việt từng là chủ nhân không chỉ của nước Tàu, mà còn là của phần lớn các giá trị văn hóa tinh thần quan trọng đã bị người Hán dần dần thâu tóm hết là Nho giáo và Ngũ kinh. Theo cách nói của Kim Định, tộc Việt đã xây nền văn hóa minh triết nhân bản rồi người Hoa học theo và chiếm đoạt. Với những tư tưởng bất thường như thế, bên cạnh việc có nhiều người chống, điều bất thường thứ ba (về hiệu quả) là ông có quá nhiều người theo; số người theo này mỗi ngày một đông, mà họ phần lớn lại là những trí thức (tuy không phải là chuyên sâu trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa). Tất cả những cái bất thường đó đã làm nên “hiện tượng Kim Định”.
Lôi kéo được nhiều người theo, ấy hẳn là vì ông có nhiều điểm mạnh. Điểm mạnh thứ nhất của Kim Định là ông tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết Tây; nghĩa là ông đã được đào tạo bài bản và có phương pháp. Điểm mạnh thứ hai là ông lại học cao học chuyên ngành Trung Quốc học tại Pháp: Nhờ đó mà ông am hiểu lịch sử và văn hóa Trung Hoa, tiếp xúc được với các tác phẩm nghiên cứu Trung Quốc của người phương Tây; trong ông tri thức Tây và Đông đã bổ sung hoàn hảo cho nhau. Điểm mạnh thứ ba là Kim Định làm linh mục tại nhà thờ, nhờ vậy mà ông có sự đam mê truyền bá đức tin và có kinh nghiệm trong việc gây dựng phong trào. Điểm mạnh thứ tư là ông tham gia giảng dạy đại học, sống trong môi trường khuyến khích tư duy sáng tạo. Điểm mạnh thứ năm nằm ở chỗ ông sinh ra ở Bắc Kỳ, song lại sống ở Nam Kỳ. Sinh ra ở đất Bắc nên trong ông có cái “máu” thích tư duy lý luận; còn môi trường sống Nam Kỳ giúp ông phát triển lối tư duy phóng khoáng, cách hành xử năng động, “dám nghĩ dám làm”. Nam Kỳ lại là nơi ở xa Đất Tổ; mà càng ở xa Đất Tổ bao nhiêu thì tấm lòng và tình cảm hướng về nguồn càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Nam Kỳ thời Kim Định còn là mảnh đất tư bản tự do. Cái chất “tự do” này nếu đặt trong môi trường phương Tây thì sẽ phát triển mạnh xu hướng quốc tế mà coi nhẹ dân tộc quốc gia; nhưng nếu đặt trong môi trường phương Đông thì ngược lại, lại tạo điều kiện cho việc phát huy tinh thần quốc gia dân tộc.
Tổng hợp của tất cả những điểm mạnh ấy đã làm nên những đóng góp lớn của Kim Định. Thứ nhất là trên lĩnh vực hoạt động nghiên cứu, Kim Định là người đi tiên phong trong việc tìm kiếm những giá trị tinh thần đặc thù của dân tộc. Thứ hai là trên lĩnh vực tư tưởng học thuật, Kim Định đã đề xuất những nhận định khái quát rất mạnh bạo về vai trò và đóng góp của văn hóa Bách Việt đối với văn hóa Trung Hoa. Những nhận định có thể nói là đúng hướng về cơ bản và trên những nét tổng thể này đã góp phần khai phóng, giải thoát người Việt khỏi tư duy nô lệ coi cái gì cũng từ Trung Hoa mà ra; trở thành nguồn cảm hứng và động viên cho nhiều người tiếp tục bỏ công sức đi theo hướng này. Thứ ba là trên lĩnh vực phong trào, trong hơn 30 năm (1965-1997), Kim Định đã khởi tạo ra được một phong trào nghiên cứu văn hóa Việt, tư tưởng Việt trong một phạm vi rộng lớn những người trí thức trẻ.
GS. Trần Văn Ðoàn, nguyên trưởng khoa triết học tại Đại học Quốc gia Đài Loan, đã nhận xét: “Từ các tiểu bang bên Mỹ, cho tới các nước tại Âu Châu, từ Gia Nã Ðại cho tới Âu Châu, nơi đâu cũng có phong trào Hùng Việt hấp dẫn cả ngàn người. Thật là một hiện tượng chưa từng thấy”. “Có thể nói mà không sợ lịch sử chê bai, cụ Kim Ðịnh có lẽ là một người trí thức Việt duy nhất có thể gây nên một ảnh hưởng như vậy” [Trần Văn Ðoàn 1997].
Nhưng những cơ sở làm nên các điểm mạnh của Kim Định cũng chính là nơi bắt nguồn những điểm yếu của ông: Ở nơi xa đất tổ trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, thiếu thốn về tư liệu, trong khi đối tượng nghiên cứu lại trừu tượng, môi trường nghiên cứu mang tính “phong trào” dễ sinh ra sự dễ dãi, lãng mạn, tư biện. Trong khi đó nền giáo dục Tây phương cộng với văn hóa Ki-tô giáo mà Kim Định thụ hưởng lại dễ khiến ông sinh ra cực đoan. Trần Văn Đoàn đã nói rõ điều này: “tôi tuy khẳng định triết học của cụ, song cũng phê bình tính chất thiếu nghiêm túc và quá lãng mạn trong nền triết học An Vi của cụ” [Trần Văn Ðoàn 1997].
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, những cố gắng của Nguyễn Đăng Thục, Kim Định và các học giả khác ở Đại học Văn khoa Sài Gòn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn hóa Việt Nam là những đóng góp quan trọng mà thầy và trò Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM và Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp. HCM sau này đã tiếp nhận và phát huy.
3. Đào tạo và nghiên cứu văn hóa ở Đại học Tổng hợp và Đại học KHXHNV - ĐHQG Tp. HCM
3.1. Đào tạo tri thức văn hóa
Sau ngày đất nước thống nhất (4/1975), Đại học Văn khoa được sáp nhập và trở thành bộ phận khoa học xã hội và nhân văn (lúc bấy giờ gọi chung là khoa học xã hội) của Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM (1977-1996). Trong bối cảnh xã hội mới với những thay đổi về chiến lược, mục tiêu và chương trình đào tạo, việc đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội ở Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM, về cơ bản là sự tiếp nối truyền thống khoa học xã hội của miền Bắc, và do vậy có sự đứt gãy so với truyền thống khoa học xã hội của Đại học Văn khoa Sài Gòn. Việc đào tạo và nghiên cứu văn hóa cũng không nằm ngoài tình trạng chung ấy.
Sau 10 năm tiến hành cải cách giáo dục ở bậc phổ thông (1979-1989), năm 1990 Bộ GD & ĐT khởi động việc cải cách giáo dục ở bậc đại học, bắt đầu từ nhóm ngành ngoại ngữ. Hội đồng Liên ngành Ngoại ngữ được thành lập với các Hội đồng ngành tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp và Hội đồng Ngữ học và Việt Nam học cho khối Ngoại ngữ. Hội đồng sau cùng do TSKH. Trần Ngọc Thêm làm Chủ tịch, chủ trương xây dựng “Cơ sở văn hóa Việt Nam” như một trong những môn học cung cấp kiến thức nền tảng chung cho khối ngoại ngữ. Từ năm 1990, TSKH. Trần Ngọc Thêm bắt tay vào xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình dạy thí điểm môn học này tại Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và thỉnh giảng tại các trường, khoa ngoại ngữ ở Hà Nội, Huế, Tp. HCM.
Từ năm 1992, PGS.TSKH. Trần Ngọc Thêm chuyển công tác vào Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM. Giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” được tiếp tục giảng dạy và hoàn tất tại đây. Tháng 5-1995, tại Hội nghị về chương trình đào tạo đại học do Bộ GD & ĐT tổ chức ở Đà Lạt, môn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” được thông qua đưa vào chương trình đại học đại cương dùng trong cả nước. Tháng 9-1995, giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm được Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM xuất bản. Đầu năm 1996, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học tổ chức một cuộc hội thảo tại 72 Trần Quốc Thảo, Tp. HCM thảo luận về cuốn sách này. Năm 1997, Bộ GD & ĐT đưa cuốn này và cuốn giáo trình cùng tên do GS. Trần Quốc Vượng chủ biên (ra mắt năm 1996) vào danh sách giáo trình chính thức của Bộ.
Năm 1996, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) được thành lập; nhóm các khoa, ngành khoa học xã hội của Đại học Tổng hợp Tp. HCM trở thành Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) thuộc ĐHQG-HCM. Đây là một trong những mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển mới của việc đào tạo và nghiên cứu văn hóa từ Đại học Văn khoa đến ĐH KHXH&NV.
Trước sứ mệnh của một trong hai trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn lớn nhất nước, trong bối cảnh văn hóa được quan tâm đặc biệt trên nhiều phương diện và từ nhiều góc độ, Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM đã từng bước có kế hoạch đẩy mạnh đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa và văn hóa học. Trong việc đào tạo tri thức văn hóa như một ngành, điểm đáng chú ý là Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG TP. HCM tiến hành đào tạo hệ thạc sĩ trước khi đào tạo hệ cử nhân và hệ tiến sĩ. Điều này thể hiện sự nhạy bén và tầm nhìn của các nhà khoa học và quản lý của Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM lúc bấy giờ.
Từ năm 1999, trước yêu cầu xây dựng ngành học mới đáp ứng nhu cầu học thuật về nghiên cứu văn hóa và đáp ứng nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ trong các lĩnh vực có liên quan đến văn hóa, Ban chủ nhiệm Khoa Đông phương học Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM, bao gồm GS.TS. Bùi Khánh Thế (trưởng khoa), PGS.TS. Đinh Lê Thư và GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm (hai phó trưởng khoa) đã đề xuất đề án mở ngành đào tạo thạc sĩ văn hóa học. Trong Tọa đàm đóng góp ý kiến cho luận chứng xin mở ngành ngày 21/1/2000 do Quyền Hiệu trưởng Ngô Văn Lệ chủ trì, các nhà khoa học đều nhất trí cao ở việc xác định văn hóa học là “ngành khoa học cơ bản nên Trường Đại học KHXH&NV là nơi thích hợp nhất đảm nhận công việc này”; đồng thời, về mặt thực tiễn, các nhà khoa học cũng nhất trí cao vai trò chương trình đào tạo cao học văn hóa học đối với việc “giải quyết được phần nào nhu cầu của xã hội về việc nâng cao kiến thức lý luận trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật làm nền tảng cho các thực tiễn hoạt động văn hóa ở các tỉnh phía Nam” (Biên bản tọa đàm).
Đặc biệt, về việc đào tạo tri thức văn hóa, các nhà khoa học trong buổi tọa đàm nói trên đều “tán thành cách đặt vấn đề của Trường là tập hợp các chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng đều gắn với lĩnh vực văn hóa, để cùng liên kết tổ chức đào tạo bậc sau đại học trước một bước nhằm tạo ra “máy cái”, tức đội ngũ cán bộ giảng dạy, và song song với việc đó là tiến hành các thủ tục xin phép Bộ mở ngành đào tạo văn hóa học ở bậc đại học” (Biên bản tọa đàm).
Quả vậy, từ góc độ đào tạo, có thể thấy chương trình cao học văn hóa học trong đề án mở ngành thể hiện rất rõ tính liên ngành trong đào tạo tri thức văn hóa và tính thực tiễn trong đào tạo nguồn nhân lực gắn với nhu cầu xã hội của các tỉnh phía Nam. Không kể các môn chung do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định (33 đơn vị học trình, chưa kể luận văn tốt nghiệp), chương trình đào tạo văn hóa học có 30 đơn vị học trình bắt buộc gồm các môn học chuyên sâu về văn hóa học, bản sắc văn hóa Việt Nam, văn hóa khu vực và các loại hình văn hóa khác (nghệ thuật, quản lý văn hóa…) và 10 đơn vị học trình tự chọn trong danh mục phong phú nhiều môn học gắn với các lĩnh vực hoạt động thực tiễn như bảo tồn, bảo tàng, thư viện và thông tin, xuất bản và phát hành sách, văn hóa du lịch, truyền thông đại chúng…
Với ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của mình, chương trình sớm được phê duyệt. Trong năm 2000, ngay sau khi chương trình vừa được phê duyệt, Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM đã được phép tuyển sinh cao học văn hóa học khóa I (2000-2003) với 17 người trúng tuyển. Qua năm sau với khóa II (2001-2004), số học viên tăng gấp đôi với 34 người trúng tuyển. Trong hai năm 2000-2001, GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm đi thỉnh giảng ở Hàn Quốc, việc quản lý hệ cao học văn hóa học được giao cho Bộ môn Văn học dân gian của khoa Ngữ văn. Đến năm 2002 Bộ môn Văn hóa học trực thuộc Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM được thành lập với nhiệm vụ chính là đào tạo cao học văn hóa học, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm mới từ Hàn Quốc trở về được bổ nhiệm làm Trưởng Bộ môn. Từ năm 2005, Bộ môn đã tiến hành xây dựng các đề án đào tạo cử nhân và tiến sĩ văn hóa học. Ngày 30-11-2006, Đề án đào tạo cử nhân văn hóa học được ĐHQG Tp. HCM thông qua và chẳng bao lâu sau đó, ngày 26/1/2007, đến lượt Đề án đào tạo tiến sĩ văn hóa học được thông qua. Trong đợt tuyển sinh năm 2007, lần đầu tiên (cho đến nay vẫn là duy nhất) trong hệ thống Đại học Quốc gia Việt Nam có một đơn vị đào tạo Văn hóa học ở cả ba hệ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
Ngày 24-10-2008, Giám đốc ĐHQG TP. HCM Phan Thanh Bình ký quyết định số 1198/QĐ-ĐHQG-TCCB về việc Thành lập Khoa văn hoá học thuộc Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM, do GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm làm Trưởng khoa, đánh dấu kết quả sự nỗ lực không ngừng của Bộ môn Văn hóa học, của Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM, đồng thời cho thấy sự kịp thời, đúng hướng trong đào tạo văn hóa học phục vụ nhu cầu nhân lực của đất nước ở Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM.
Từ Bộ môn đến Khoa Văn hóa học, sứ mệnh trở thành “Trường phái văn hóa học Tp. HCM” là kim chỉ nam cho việc xây dựng và cải tiến chương trình đào tạo ở các hệ cũng như trong định hướng đào tạo chuyên ngành. Theo đó, trong đào tạo ở cả ba hệ, Khoa Văn hóa học tập trung vào 4 mảng tri thức và kỹ năng, ứng với 4 Bộ môn của khoa được Nhà trường chính thức công nhận ngay sau khi khoa được thành lập: Lý luận văn hóa học, Văn hóa học ứng dụng, Văn hóa Việt Nam, Văn hóa thế giới.
Trong đào tạo cử nhân, chương trình văn hóa học chú trọng đến đào tạo cho sinh viên nền tảng kiến thức căn bản và đủ rộng trên các lĩnh vực lý luận, ứng dụng và các tri thức văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới. Tuy ngành học còn mới mẻ, ngay từ khóa đầu (2007), cử nhân văn hóa học đã đảm bảo chỉ tiêu 70 sinh viên/khóa và điểm chuẩn đầu vào hệ cử nhân văn hóa học dần thuộc nhóm cao trong tuyển sinh đại học của trường, những năm gần đây điểm chuẩn vào văn hóa học đều từ 22 đến 24 điểm. Trải qua 10 khóa đã và đang đào tạo với trên 60% sinh viên ra trường có việc làm cho thấy việc đào tạo đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Một trong những lợi thế của sinh viên văn hóa học khi ra trường là phổ việc làm khá rộng và sinh viên đáp ứng công việc khá tốt nhờ được trang bị kiến thức tương đối sâu rộng từ tính liên ngành cao của văn hóa học.
Ở hệ đào tạo thạc sĩ với 18 khóa tuyển sinh, bình quân mỗi khóa có khoảng 33 học viên trúng tuyển, cho thấy đào tạo cao học văn hóa học của Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM có tính ổn định cao và có được niềm tin của xã hội về chất lượng đào tạo. Không kể 3 khóa đang đào tạo, đến nay cao học văn hóa học đã có 322 học viên tốt nghiệp và phần lớn trong số họ có việc làm hoặc đang học tiếp lên bậc cao hơn. Lợi thế trong đào tạo thạc sĩ văn hóa học là hầu hết học viên có công việc ổn định, được cơ quan cử đi học; các học viên chưa có việc làm sau khi tốt nghiệp cũng tương đối dễ tìm việc vì tương tự ở hệ cử nhân, lĩnh vực văn hóa có phổ công việc khá rộng, từ các cơ quan, công ty nhà nước đến các công ty tư nhân có các lĩnh vực hoạt động và ngành nghề liên quan đến văn hóa. Thống kê đào tạo của khoa Văn hóa học cho thấy, số lượng học viên văn hóa học làm việc tại cơ quan hành chính sự nghiệp lên đến 59,2%, doanh nghiệp tư nhân 12,9%, giảng dạy ở trường nghề, đại học 11,2%, còn lại là các ngành nghề, lĩnh vực khác.
Ở bậc đào tạo tiến sĩ, số lượng đầu vào hàng năm luôn đạt nhóm đầu của trường với bình quân 10,5 người/khóa. Với kiến thức nền tảng ở bậc cao học và với các chuyên đề tập trung vào các mảng phương pháp nghiên cứu, lý thuyết và ứng dụng văn hóa học đã giúp cho học viên có được kiến thức liên ngành, phục vụ tốt cho việc thực hiện luận án tiến sĩ cũng như nghiên cứu khoa học trong và sau khi tốt nghiệp. Đến nay, Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM đã đào tạo được 22 tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học và 100% trong số họ đã có việc làm, phần lớn trong số họ là giảng viên tại các trường đại học, cán bộ tại các viện nghiên cứu và các cơ quan ở phía Nam như Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM, Đại học Kiến trúc TP. HCM, Học viện âm nhạc TP.TPHCM và ở các đài phát thanh, đài truyền hình, các tòa soạn báo, nhà xuất bản ở TP. HCM và các tỉnh phía Nam…
Riêng về tri thức văn hóa học lý luận và ứng dụng, gắn với việc xây dựng và phát triển trường phái văn hóa học có bản sắc riêng, bên cạnh việc giới thiệu và giảng dạy các lý thuyết nghiên cứu văn hóa mới từ các ngành, đặc biệt là văn hóa học (culturology) theo truyền thống Nga và nghiên cứu văn hóa (cultural studies) theo truyền thống Âu Mỹ, Khoa Văn hóa học tập trung giúp sinh viên, học viên cao học và NCS nắm vững lý thuyết và cách tiếp cận hệ thống - loại hình trong nghiên cứu văn hóa. Từ việc giảng dạy môn Cơ sở văn hóa Việt Nam chung cho sinh viên các ngành học trong trường đến giảng dạy các môn học chuyên ngành, Khoa Văn hóa học đã góp phần quan trọng trong việc giúp người học tiếp cận văn hóa và văn hóa Việt Nam một cách khoa học và hệ thống, tránh được những nhận xét, đánh giá cảm tính thường thấy và biết vận dụng kiến thức văn hóa học vào thực tiễn.
3.2. Nghiên cứu văn hóa
Song song với việc đào tạo tri thức văn hóa là nghiên cứu văn hóa.
Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, thành tựu nổi bật trong nghiên cứu khoa học xã hội ở miền Bắc thuộc về ngành khảo cổ học trong hoạt động tìm về cội nguồn với việc nghiên cứu thời đại Hùng Vương, còn những công trình nghiên cứu văn hóa dân tộc thì hầu như vắng bóng (đáng chú ý chỉ có công trình “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của Nguyễn Hồng Phong do NXB KHXH công bố năm 1963). Tiếp nối truyền thống nghiên cứu khoa học xã hội của miền Bắc, ở Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM giai đoạn 1977-1992 hầu như không có hoạt động khoa học nào về nghiên cứu văn hóa.
Năm 1992, PGS.TSKH. Trần Ngọc Thêm đã đăng ký chủ nhiệm đề tài cấp bộ “Tính hệ thống của văn hóa Việt Nam” với cách tiếp cận hệ thống - loại hình, thực hiện trong hai năm 1994-1995 dưới sự chủ trì của Trường Đại học Tổng hợp Tp. HCM. Năm 1995, đề tài này được Bộ GD & ĐT tặng bằng khen là công trình xuất sắc trong giai đoạn 5 năm 1991-1995. Những kết quả của đề tài được chọn lọc đưa vào giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” và được xuất bản như một bộ phận trong chuyên khảo “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (670 tr.) do NXB Tổng hợp Tp. HCM công bố năm 1996 và tái bản nhiều lần sau đó.
Từ khi thành lập Bộ môn Văn hóa học năm 2002 và Khoa Văn hóa học năm 2008, việc nghiên cứu văn hóa và văn hóa học có thêm những bước tiến mới. Năm 2011, Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng được Giám đốc ĐHQG Tp. HCM ký quyết định thành lập, giúp tăng cường và hoàn thiện hệ thống tổ chức và lực lượng nghiên cứu văn hóa và văn hóa học.
Trong các năm từ 2008 đến những năm gần đây, các nhà nghiên cứu văn hóa và văn hóa học ở Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM chú trọng xây dựng những bộ công cụ trong nghiên cứu văn hóa và văn hóa học cùng những vấn đề cấp bách của văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. Ba đề tài cấp Đại học Quốc gia và cấp Nhà nước do các nhà nghiên cứu văn hóa và văn hóa học ở Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM thực hiện là những ví dụ tiêu biểu:
"Xây dựng từ điển thuật ngữ đối chiếu văn hoá học" (mã số B2004-18b-04 TĐ) là đề tài NCKH trọng điểm Đại học Quốc gia do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm với sự tham gia của các thành viên Bộ môn Văn hóa học, nghiệm thu năm 2008. Tuy sản phẩm của đề tài chưa được in ấn phát hành rộng rãi nhưng có ý nghĩa là sách công cụ cho giảng viên và sinh viên, học viên tham khảo.
“Văn hoá người Việt miền Tây Nam Bộ” (mã số B2009-18b-01TĐ) là đề tài trọng điểm Đại học Quốc gia do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm với sự tham gia của các thành viên Khoa Văn hóa học, nghiệm thu năm 2012. Công trình đóng góp cái nhìn toàn diện, mang tính chỉnh thể về văn hóa Tây Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hóa. Đây là công trình nghiên cứu công phu dưới góc độ tiếp cận hệ thống - loại hình, nhận diện các giá trị và các đặc trưng văn hóa người Việt Tây Nam Bộ trên các bình diện văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử và qua đó làm nổi bật các đặc trưng tính cách của người Việt vùng Tây Nam Bộ. Công trình được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ ấn hành với tên gọi “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” và phát hành rộng rãi năm 2013, tái bản năm 2014.
“Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” là đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015” (mã số KX.04/11-15) do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm với sự tham gia của các nhà khoa học trong và ngoài trường, nghiệm thu năm 2016. Bằng phương pháp dịch lý - hệ thống - loại hình kết hợp với điều tra định lượng, đề tài là một công trình nghiên cứu, khảo sát công phu về hệ giá trị văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và chỉ báo những định hướng phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Công trình được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ ấn hành với tên sách Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đền hiện đại và con đường tới tương lai năm 2016.
Đề tài cấp tỉnh gắn với thực tiễn Nam Bộ cũng đặc biệt được quan tâm. Hai đề tài vừa được nghiệm thu và được đánh giá cao cũng cho thấy điều đó: một do PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng làm chủ nhiệm -“Phát triển du lịch sinh thái và làng nghề tỉnh Bình Dương” (nghiệm thu tháng 3/2017) và một do TS, Nguyễn Văn Hiệu làm chủ nhiệm – Quy hoạch phát triển văn hóa và du lịch tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (nghiệm thu tháng 4/2017).
Ngoài các đề tài các cấp kể trên, các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn hóa ở Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM cũng xuất bản các công trình chuyên khảo phục vụ giảng dạy hoặc tập hợp các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa học hoặc giới thiệu các lý thuyết nghiên cứu văn hóa học ở ngước ngoài, tiêu biểu như:
“Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng” của tác giả Trần Ngọc Thêm (Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, 2013) tập trung vào bốn chủ đề nghiên cứu gắn với định hướng đào tạo và quản lý chuyên môn của Khoa: Các vấn đề văn hóa học lý luận, văn hóa thế giới, văn hóa Việt Nam và văn hóa học ứng dụng. Các chủ đề nghiên cứu phong phú nhưng khá nhất quán ở góc độ văn hóa học từ cách tiếp cận hệ thống - loại hình. Sách được tái bản 2014 và nhận giải Đồng “Sách hay” của Hội đồng Giải thưởng sách Việt Nam 2014.
“Văn hóa đô thị” của tác giả Trần Ngọc Khánh (Nhà xuất bản Tổng hợp TP. HCM, 2012) là sách chuyên khảo mang tính giáo trình phục vụ môn học Văn hóa đô thị ở bậc cao học và có tính tham khảo cao.
“Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ” của tác giả Lý Tùng Hiếu (Nhà xuất bản Tổng hợp TP. HCM, 2012), sách chuyên khảo phục vụ cho các học phần Văn hóa Nam bộ ở cả hai hệ cử nhân và cao học văn hóa học.
“Dân tộc học văn hóa nghệ thuật” của tác giả Huỳnh Quốc Thắng (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm TP. HCM, 2016) là sách giáo trình từ cách tiếp cận liên ngành các vấn đề văn hóa nghệ thuật và bản sắc văn hóa Việt Nam.
“Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ” của tác giả Nguyễn Ngọc Thơ (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2016) là sách chuyên khảo về một tín ngưỡng nổi bật ở Tây Nam Bộ Việt Nam với tư cách là sản phẩm của tiếp xúc và tiếp biến văn hóa đặc thù.
“Điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á” của tác giả Phan Anh Tú (Nhà xuất bản ĐHQG TP. HCM, 2016) là sách chuyên khảo, kết quả luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học.
“Truyền hình trong dòng chảy văn hóa đại chúng” của tác giả Trương Văn Minh (Nhà xuất bản ĐHQG TP. HCM, 2016) là kết quả luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học.
“Văn hóa học: Một số vấn đề lịch sử, văn hóa” của tác giả Nguyễn Văn Hiệu và Đinh Thị Dung (Nhà xuất bản ĐHQG TP. HCM, 2016) là tập hợp các bài viết về lý luận văn hóa học và một số vấn đề lịch sử, văn hóa từ góc độ tiếp cận liên ngành.
Ở cấp độ khoa, khoa Văn hóa học cũng xuất bản được hai tập sách tập hợp các bài viết có tính chuyên ngành cao, kết quả của những công bố khoa học trong và ngoài nước của các nhà khoa học trong và ngoài khoa gắn với thực tiễn nghiên cứu và đào tạo. Đó là “Những vấn đề hoa học xã hội và nhân văn: Chuyên đề Văn hóa học, tập I” (2013) và “Những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn: Chuyên đề Văn hóa học, tập II” (2016), đều do Nhà xuất bản ĐHQG TP. HCM ấn hành.
Ngoài ra, không thể không kể đến những đóng góp của các học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành văn hóa học trong nghiên cứu văn hóa. Trong số 322 đề tài luận văn thạc sĩ và 22 đề tài luận án tiến sĩ văn hóa học đã bảo vệ thành công, hầu hết đều gắn với thực tiễn văn hóa phía Nam, trong đó nổi bật lên những vấn đề có tính thời sự khoa học cao về văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử, biến đổi văn hoá, văn hoá tôn giáo, văn hóa nghệ thuật, văn hoá du lịch ,… góp phần không nhỏ vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của địa phương, nhất là đối với các học viên được địa phương cử đi học, làm những đề tài gắn với thực tiễn địa phương và sau khi tốt nghiệp trở về làm việc ở chính địa phương của mình.
Cùng với việc đào tạo, biên soạn giáo trình và xuất bản các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa và văn hóa học, Trường ĐH KHXH&NV ĐHQG TP.HCM còn thường xuyên tổ chức nhiều tọa đàm và hội thảo về đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, về nghiên cứu chuyên sâu cũng như về những vấn đề văn hóa truyền thống hoặc đương đại được nhiều người quan tâm. Tiêu biểu trong số đó là các hội thảo rất được nhiều người quan tâm như:
- “Nâng cao chất lượng đào tạo bậc sau đại học chuyên ngành văn hóa học”, Trường ĐH KHXH-NV ĐHQG TP.HCM, 6/2006.
- “Văn hóa thời gian rỗi – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường ĐH KHXH-NV ĐHQG TP.HCM, 11/2012.
- “Luân thường Nho giáo dưới góc nhìn xuyên văn hóa”, Hội thảo quốc tế, Trường ĐH KHXH-NV, ĐHQG TP.HCM, 06/2013.
- “Những định hướng chủ yếu tiếp tục phát triển nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn mới”, Hội đồng Lý luận Trung ương và ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM – 12/2013.
- “Đào tạo, nghiên cứu văn hóa ứng dụng với thực tiễn quản lý hoạt động văn hóa khu vực phía Nam”, Trường ĐH KHXH-NV ĐHQG TP.HCM và Cục công tác phía Nam, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, 10/2014.
- “Văn hóa gia đình, dòng họ và gia phả Việt Nam”, Trường Trường ĐH KHXH-NV ĐHQG TP.HCM và Viện Lịch sử dòng họ, 11/2015.
Các tọa đàm và hội thảo đã góp phần không nhỏ trong việc nối kết cộng đồng các nhà khoa học nghiên cứu văn hóa, văn hóa học và xuất bản được nhiều sách kỷ yếu có giá trị tham khảo cao.
4. Kết luận
60 năm không phải là dài, lại nhiều khoảng đứt nối, nhưng quá trình đào tạo và nghiên cứu văn hóa từ Đại học Văn khoa Sài Gòn đến Đại học Khoa học xã hội và nhân văn ĐHQG TP.HCM đã góp phần đặt những nền móng quan trọng trong đào tạo và nghiên cứu tri thức văn hóa, trước hết là trên địa bàn các tỉnh phía Nam.
Trên tinh thần khai phóng, Đại học Văn khoa Sài Gòn đã có những đóng góp quan trọng trong việc đào tạo và nghiên cứu văn hóa ở miền Nam trước năm 1975. Nhiều lý thuyết và phương pháp được các học giả Đại học Văn khoa giới thiệu, vận dụng đến nay vẫn còn có ý nghĩa khoa học nhất định, nhiều vấn đề văn hóa dân tộc được đặt ra từ trước năm 1975 đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Đã đến lúc cần có những nghiên cứu chuyên sâu về những đóng góp của học giả miền Nam trước 1975 nói chung, của các học giả Đại học Văn khoa nói riêng, trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo văn hóa, để vừa ghi nhận những đóng góp học thuật của các thế hệ đi trước, vừa tiếp thụ và phát huy hơn nữa di sản học thuật đó trong bối cảnh hiện nay.
Tiếp nối Đại học Văn khoa, trên tinh thần “giáo dục toàn diện, khai phóng, đa văn hóa”, Trường Đại học KHXH&NV ĐHQG-HCM, trong bối cảnh mới có nhiều thuận lợi, cũng đã có những đóng góp không nhỏ trong việc đào tạo, nghiên cứu và giới thiệu văn hóa một cách hệ thống, chuyên sâu, hướng đến việc sớm hình thành nên một trường phái văn hóa học có bản sắc và có nhiều đóng góp nổi bật trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn gắn với thực tiễn phía Nam.

Tài liệu tham khảo
1. Barker Chris (2011): Nghiên cứu văn hoá: Lý thuyết và thực hành (Đặng Tuyết Anh dịch), NXB. Văn hoá Thông tin.
2. Đoàn Văn Chúc (1997): Văn hóa học, NXB Văn hóa – Thông tin.
3. Huỳnh Như Phương (2017): Ngày tháng Văn khoa. - http://www.baomoi.com/ngay-thang-van-khoa/c/21425070.epi
4. Lê Xuân Khoa (2011): Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định. – In trong: Ngô Bảo Châu et all (cb) 2011: Ngô Bảo Châu, Pierre Darruilat, Cao Huy Thuần, Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm (cb). “Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010): Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam”. – H.: Nxb Tri thức, 820 tr. http://tuanvannguyen.blogspot.com/2011/02/ai-hoc-mien-nam-truoc-1975-hoi-tuong-va.html
5. Nhiều tác giả (2006): Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo bậc sau đại học chuyên ngành Văn hoá học”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP. HCM.
6. Nhiều tác giả (2011): Khoa học Xã hội và Nhân văn thời hội nhập, NXB. Đại học Quốc gia TP. HCM.
7. Quốc học (1999): Nguyễn Đăng Thục với những bài viết về giáo sư. – Association d’Etudes Vietnamologiques (Quốc học) xuất bản, 166 tr.
8. Rodin V.M. (2000): Văn hóa học (Nguyễn Hồng Minh dịch) , NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
9. White L.A. (1949): The Science of Culture: A Study of Man and Civilization, New York, Farrar, Straus and Cudahy, tr. 410-412.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.