Brantly Womack. "Thiên Hạ" ở phương Đông và phương Tây

“THIÊN HẠ” Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
Tác giả: Brantly Womack, giáo sư khoa Chính Trị, Đại học Virginia Mỹ
TS. NGUYỄN NGỌC THƠ dịch

Tóm tắt
Vị trí Trung Quốc ở Châu Á cũng giống như Địa Trung Hải và Đại Tây Dương đối với phương Tây. Ở Châu Á thời kì tiền hiện đại, Trung Quốc là một trung tâm khá ổn định: một nền văn minh có đất đai rộng rãi, sản vật giàu có, thành tựu to lớn, có quan hệ bất đối xứng với nhiều quốc gia xung quanh. Với bối cảnh tương tự, phương Tây thường có những trung tâm lưu động: các đế quốc xung quanh Địa Trung Hải tranh giành quyền lực lẫn nhau hết thịnh rồi suy, kích thích làm cho thương mại phát triển, cùng với nó là sự mở rộng chế độ thực dân. Đồng hành cùng quá trình hiện đại hoá tại thế giới phương Tây, Đại Tây Dương đã dần thay thế Địa Trung Hải trở thành một trung tâm lưu động khác. Thông qua xử lý các mối quan hệ với các quốc gia nhỏ xung quanh không tài nào tiêu diệt nổi, Trung Quốc truyền thống luôn tự điều chỉnh vị trí trung tâm của mình cho thích ứng với cục diện khu vực. Ở phương Tây, sự cạnh tranh giữa các nước lớn với nhau góp phần hình thành nên chủ nghĩa bá quyền. Đối với thế giới đương đại mà nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng một cách bất xác định thì kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc trong ứng xử với các mối quan hệ bất đối xứng vẫn còn nguyên ý nghĩa hiện thực.

Phần 1
Cả Trung Quốc truyền thống và phương Tây hiện đại đều từng sử dụng khái niệm “thiên hạ” theo cách hiểu của riêng mình, đều có thể dịch thành “tất cả đều dưới trời (all under heaven)”. “Thiên hạ” có hàm nghĩa rất rộng, bao gồm ý nghĩa “trung tâm thế giới” hoặc “phần quan trọng của thế giới”. Cả hai nền văn minh đều có những đặc trưng mang tính bản chất. Tuy nhiên, sự nhận thức sai lầm có thể dẫn đến sự ngạo mạn, dễ dẫn tới sự hiểu lầm hoặc sai lầm trong nắm bắt cơ hội phát triển. Những hạn chế này đều từng tồn tại trong lịch sử của cả hai trung tâm Trung Quốc và phương Tây.

Dòng tư duy trong quan hệ quốc tế hiện đại thường hàm chứa chủ nghĩa địa phương vô ý thức trong quan niệm “thiên hạ” của phương Tây, tuy nhiên do xu hướng toàn cầu hoá ngày rõ rệt đã làm cho thế giới phương Tây gặp phải những rủi ro do thái độ ngạo mạn gây ra, trong khi đó Trung Quốc tỏ ra có vai trò quan trọng trong những thử thách ấy. Là một bộ môn khoa học xã hội ứng dụng, Lý luận quan hệ quốc tế phải giải thích và trả lời những thử thách ấy. Những thách thức và cơ hội mà Trung Quốc cung cấp cho tư duy quan hệ quốc tế không hề bắt đầu từ quan niệm “Trỗi dậy trong hoà bình” như họ cố công quảng bá gần đây. Toàn cầu hóa không phải chỉ là sự lắp ghép hay nối dài của ý thức phương Tây mà ngược lại toàn cầu hoá phải bao gồm cả lịch sử và giáo huấn của thế giới phi phương Tây mà chúng ta không thể bỏ qua. Nhiệm vụ cơ bản của bài viết này là xem xét lịch sử quan hệ đối ngoại của Trung Quốc dưới góc nhìn toàn cầu hoá, đồng thời khảo sát những tác dụng có thể có của quan niệm thiên hạ thời hiện đại. Bài viết bao gồm các nội dung sau đây: trước tiên nghiên cứu đặc trưng và giới hạn vị trí trung tâm truyền thống của Trung Quốc, phân tích phương thức mà Trung Quốc ứng xử với bối cảnh quốc tế truyền thống – mà trong bối cảnh quốc tế truyền thống ấy Trung Quốc chưa hề có đối thủ xứng tầm, song họ cũng không đạt đến mức khiến các quốc gia xung quanh tâm nguyện thần phục; thứ hai nhìn lại bối cảnh lịch sử quan hệ quốc tế ở phương Tây; cuối cùng chúng ta thảo luận phân tích kinh nghiệm mô thức Trung Quốc ở hai phương diện: (1) Những thách thức ngoại giao mà Trung Quốc đang gặp phải, (2) những cống hiến của Trung Quốc đối với tư duy toàn cầu hoá.
Vương quốc trung tâm
Sự khác biệt cơ bản nhất giữa nước trung tâm ở Đông Á và thế giới phương Tây nằm ở chỗ Đông Á chỉ tồn tại một nước trung tâm trong khi phương Tây lại có một vùng biển trung tâm (Địa Trung Hải). Đông Á có một trung tâm ổn định, còn phương Tây lại có trung tâm lưu động. Vào thời Bắc Đại Tây Dương trở thành “Địa Trung Hải mới”, mặc dù khoa học kỹ thuật quốc tế đã có những biến đổi quan trọng nhưng cục diện cơ bản của quan hệ thương mại và sự cạnh tranh giữa các thế lực đa cực vẫn tiếp tục tồn tại. Tương tự như vậy, tính ổn định của khu vực Đông Á ở các khía cạnh dân số và sản xuất nông nghiệp đã kiến tạo nên bối cảnh đa tầng mức cho quan hệ quốc tế trong khu vực.
Sự khác biệt cơ bản ấy tạo nên những hệ quả sâu xa. Mặc dù Thuyết địa lý quyết định luận có những lý lẽ nhất định, song cộng đồng chính trị thường khởi phát và hưng thịnh từ gốc rễ của nó. Chẳng hạn ở Đông Á, Trung Quốc với tư cách là nước trung tâm, tuy không nội tình không phải lúc nào cũng ổn định nhưng giữa Trung Quốc và các nước xung quanh sớm đã hình thành những mối quan hệ không thể thay đổi được. Thời bình, Trung Quốc là trung tâm quyền lực nhưng không phải lúc nào cũng có thể bắt buộc được các nước xung quanh phục tùng như họ muốn. Vào thời loạn, sự thống nhất toàn Trung Quốc là mục tiêu trước mắt, trong khi sự chinh phục đối với lân bang mới chính là mục tiêu sau cùng của sự thắng lợi hoàn hảo. Dĩ nhiên một vài trường hợp cá biệt nào đó không theo quy luật này. Thời Chiến quốc ở Trung Quốc có cục diện na ná như thời kỳ tranh bá ở Châu Âu, thế nhưng qua cạnh tranh và xung đột Trung Quốc đã hình thành nên một khu vực trung tâm (Trung Nguyên), một sự hội tụ của sự tác động đa chiều kích hướng đến sự đồng nhất của văn hoá. Lịch sử hai triều đại Tần và Hán đã thể hiện rõ quan điểm này. Sự thần phục của nhà Tống trước nước Kim chính là sự nhượng bộ thoả hiệp của người Trung Quốc đối với ngoại bang, thế nhưng đến cuối cùng nước Kim cũng không thể củng cố thế lực chiếm được. Người Mông Cổ và người Mãn Châu cũng vào đất Trung Nguyên nhưng cả hai dân tộc này cũng không trở thành những trung tâm Châu Á mới mà ngược lại họ hoà tan vào văn minh Trung Hoa.
Quyền lực của Trung Quốc có thể bị thách thức qua các cuộc chiến tranh chinh phục của ngoại bang nói trên nhưng vị trí trung tâm của nó thì vẫn luôn cố định. Vào thời bình, những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng rất có hiệu quả. Sự thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của nhà Minh vào khoảng 1407-1427 là một hiện tượng cá biệt. Sự thất bại ấy đã khiến nhà Minh đã học được bài học lớn, bắt buộc họ thừa nhận quyền tự trị của Việt Nam để đổi lấy trật tự khu vực. Trung Quốc với lợi thế dân số và kinh tế nông nghiệp phát triển đã giúp họ luôn giữ vững vị trí trung tâm ở Đông Á.
Những hạn chế trên đất liền
Vị trí trung tâm của Trung Quốc trên đất liền rất có lợi mà đôi khi cũng có hại. Theo đà phát triển của kinh tế truyền thống, Trung Quốc có thể tích luỹ được nguồn vật chất và văn hoá to lớn từ xung quanh. Thương mại trong nước phát triển tạo nên cục diện các thành phần kinh tế tự dựa vào nhau để tồn tại hết sức phức tạp. Đồng thời Trung Quốc xưa cũng hết sức quan tâm tiếp nhận thương phẩm từ bên ngoài. Mặc dù tồn tại giữa một khu vực địa lý rộng lớn, Trung Quốc thường tự cho rằng nền kinh tế văn hoá của mình đạt đến mức có thể “tự cấp tự túc”. Ở một khía cạnh khác, dưới con mắt của các dân tộc du mục lân cận ở phía bắc và phía tây thì sự giàu có của Trung Quốc có sức cám dỗ to lớn hơn nhiều so với đạo đức và văn hoá. Tính cơ động của các dân tộc du mục ấy cùng với lãnh địa rộng rãi nhưng hoang vắng ngoài biên ải đã khiến người Trung Quốc mất ăn mất ngủ, một vấn đề mà nhiều triều đại Trung Quốc không thể giải quyết được. Các dân tộc du mục phía bắc có lãnh địa rộng lớn tính từ Bắc Kinh đến Bắc Băng Dương, có cự ly dài bằng từ Bắc Kinh đến đảo Borneo ở Đông Nam Á. Một nước Trung Quốc nông nghiệp nổi lên ở phía nam của thảo nguyên mênh mông ấy mà Vạn Lý Trường Thành có thể coi là một làn ranh mang tính biểu tượng.
Sự nguy hại đến an toàn của Trung Quốc không nằm ở các quốc gia thần phục tương đối hùng mạnh ở phía đông và phía nam mà nằm ở các khu vực lân bang phía bắc và phía tây luôn khát khao giàu có mà họ có thể phòng ngự nhưng không thể tiêu diệt được. Trung Quốc sớm nhìn thấy tầm quan trọng của mình đối với các nước lân bang ấy, họ có thể tự bảo vệ cho mình trong chiến tranh nhưng thường thì chính các nước lân bang ấy lại nắm quyền chủ động tấn công. Mặt khác, do lãnh thổ rộng lớn, đường biên phía bắc và phía tây dài đằng đẵng, chi phí phòng ngự lâu dài vô cùng to lớn. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, Trung Quốc không lấy làm thích thú với thương phẩm từ lân bang, do vậy xu hướng đóng cửa là điều có thể hiểu được. Vì thế, trên thực tế Trung Quốc là một quốc gia khép kín tiêu biểu ở Châu Á.
Lãnh thổ và quy mô to lớn của Trung Quốc cũng là một điều bất lợi. Một mặt khi đủ năng lực để điều tiết quan hệ trong ngoài, Trung Quốc chắc chắn trở thành một đối thủ có tiềm năng hùng mạnh nhất. Còn ở thời loạn, Trung Quốc không hề là đối tượng dễ dàng bị ngoại xâm khuất phục. Sở dĩ nhà Nguyên và nhà Thanh có thể chinh phục thành công và tồn tại lâu dài là vì mô thức trị lý của các vương triều Trung Nguyên trước đó vẫn tiếp tục cung cấp sự tiện lợi và hiệu quả đồng thời những nỗ lực không ngừng cần thiết cho quá trình cách tân chính trị của họ đều bị mô thức Trung Quốc làm tiêu biến hết. Mặt khác lãnh thổ rộng lớn dễ dẫn đến nguy cơ chủ nghĩa phân liệt và chủ nghĩa địa phương. Đường biên giới dài và nguồn tài nguyên có hạn khiến Trung Quốc cũng gặp rắc rối ở lĩnh vực phòng ngự, dễ bị đối thủ thừa cơ xâm lấn.
Nếu không xét tới các nhân tố bất lợi nói trên, Trung Quốc, một quốc gia lục địa rộng lớn, vẫn có những hạn chế của chính nó. Trong lịch sử, Trung Quốc thường thể hiện xu hướng hạn chế phát triển thương mại hàng hải. Trong tình trạng giao thông hạn chế thời tiền hiện đại, người Trung Quốc có xu hướng ngại cự li và không gian, theo họ hiệu quả thương mại thu được tương ứng sẽ tỉ lệ nghịch với chiều dài cự li, thậm chí dễ bị thua lỗ. Chính vì vậy, quốc gia nông nghiệp này lại giữ thái độ lạnh nhạt đối với thương mại đường dài. Trên cơ sở dựa vào đại lục là chính, Trung Quốc có thiên hướng tự bằng lòng với chính mình, không hào hứng với phát triển thương mại hàng hải nhằm giảm thiểu rủi ro và duy trì sức quản lý. Chính điều này làm mất đi sự chủ động của họ trong bản đồ thương mại hàng hải quốc tế. Một ví dụ điển hình minh chứng sống động nhất của xu hướng ấy là sự kiện Trịnh Hoà xuống Nam Dương vào các năm 1405-1433 cốt là thể hiện quyền lực nhà Minh chứ không hề khuyến khích nền thương mại tư nhân. Mặc dù thái độ của chính phủ Trung Quốc lạnh nhạt, thương mại hàng hải Trung Quốc trong những thế kỷ gần nhất cũng có những tiến triển đáng kể.
Là một quốc gia đại lục, mối nguy hại sâu xa nhất của Trung Quốc nằm chính ở hiện trạng kém phát triển. Như Mark Elvin đã nói, sự mở rộng và phát triển của nông nghiệp Trung Quốc đã tạo nên một cục diện bất lợi, ở đó áp lực dân số đã tạo thành một cái “bẫy quân bình trình độ cao”, kéo theo làm cản trở sự lạc hậu của các loại hình khoa học kỹ thuật giúp tiết kiệm sức lao động. Ngoài ra mỗi lần cải tiến sức sản xuất nông nghiệp hay hệ thống tưới tiêu đều làm gia tăng gánh nặng duy trì, làm cho khu vực nông thôn Trung Quốc trở thành một “cỗ máy chạy bộ” không ngừng đòi hỏi được tu bổ, làm cho khó có thể đạt được hiệu quả. Trong bối cảnh ấy, cái giá môi trường của sự mở rộng văn minh nông nghiệp chính là sự tiêu hao và thiếu hụt nguồn động thực vật, đặc biệt là độ bao phủ của rừng giảm thiểu cũng như nguy cơ thiếu hụt gỗ nhiên liệu tương ứng. Điều trớ trêu là rủi ro ấy bắt nguồn từ từ sự thành công của mô thức truyền thống – nhiều người hơn sinh sống trên cùng một mảnh đất. Đây là một kiểu rủi ro nhân đôi, nó thúc đẩy hình thành cục diện bế tắc giữa một bên là duy trì sự phát triển truyền thống và sự đột phá tiền hiện đại.

Vị trí trung tâm và hiện tượng cực hoá
Mặc dù chiếm giữ vị trí địa lý là quan trọng, cái để Trung Quốc duy trì vị trí trung tâm của mình vẫn là sự phát triển tương đối của thể chế và sức sản xuất. Cũng giống như nhiều nhà lịch sử chỉ ra, vị trí trung tâm của Trung Quốc là do ưu thế quân sự tạo nên. Trung Quốc cũng có lúc bỏ lỡ nhiều cơ hội chinh phục các dân tộc du mục, song điều quan trọng tương tự là trước thời Thanh, Trung Quốc và các dân tộc phía bắc cơ bản tồn tại cục diện giao lưu đồng đẳng. Tuy nhiên chúng ta không nên cho rằng Trung Quốc là một thành viên bình đẳng trong khu vực, tức xem nhẹ vai trò của họ trong cục diện khu vực. Thậm chí đối với Toyotomi Hideiyoshi, nhà quân sự lỗi lạc thứ hai của Nhật Bản, mơ ước cuối cùng chưa thực hiện được chính là chinh phục Trung Quốc. Ngược lại Trung Quốc chưa bao giờ có dã tâm chinh phục Nhật Bản. Trung Quốc hiểu rằng họ không thể giữ hoang tưởng ấy. Trong tất cả các mối quan hệ khu vực, Trung Quốc truyền thống cho rằng mối quan hệ này không quan trọng, đồng thời họ cũng không thể làm gì khác hơn.

Cục diện khu vực cơ bản do vị trí trung tâm của Trung Quốc tạo thành là một mô thức hấp thụ chứ không phải mô thức quyền lực. Do vì trung tâm này có lực lượng hùng mạnh, các quốc gia khác luôn cảm nhận sự tồn tại song song của những mạo hiểm và cơ hội do mối quan hệ này mang đến, do vậy họ luôn dõi mắt quan tâm đến Trung Quốc. Sự bất cân xứng về sức thu hút dẫn đến sự bất đồng đẳng của sự chú ý. Trong một mối quan hệ song phương không cân xứng, quốc gia lớn hơn thường ít tiếp xúc và do đó ít chú ý, trong khi phía nhỏ hơn có nhiều lý do để quan tâm nhiều hơn. Trong cục diện khu vực đa phương, sự chú ý tập trung nhiều hơn vào các “vai diễn” lớn hơn, và theo lẽ tự nhiên, trung tâm của sự chú ý sẽ trở thành một trung tâm liên lạc trong khu vực.
Một mặt sự khác biệt của quốc gia trung tâm và các quốc gia phi trung tâm thường được phóng đại bởi địa vị trung tâm của khu vực khi mà trung tâm giữ tư cách đại diện cho cả hệ thống; mặt khác quốc gia trung tâm có thể tự chủ ứng phó bất kỳ quốc gia phi trung tâm nào kể cả khi trung tâm phải yếu hơn sự tổng hoà lực lượng của toàn thể các quốc gia phi trung tâm. Mặc dù các quốc gia phi trung tâm không liên kết với nhau nhưng nếu trung tâm gây áp lực với bất kỳ quốc gia nào cũng đều làm giảm thiểu ưu thế của nó đối với các quốc gia khác, đồng thời còn tác động đến khuynh hướng li tâm của các quốc gia xung quanh. Tâm lý phản đế quốc của các quốc gia xung quanh là không thể chối cãi, bởi họ đều cảm nhận đầy đủ sự khác biệt giữa lợi ích bản thân và tham vọng mà đế quốc trung tâm thu được qua việc lập ra một “trật tự hài hoà” vốn đã được tô son trét phấn. Nếu quốc gia trung tâm lạm dụng ưu thế của mình sẽ dẫn đến kết quả miền biên cương đầy rẫy những mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến xung đột. Đó sẽ là những nhân tố bất ổn định mang tính phá hoại. Sự bành trướng thái quá của đế quốc trung tâm không phải là sự khuếch trương đơn giản về mặt địa lí hoặc quân sự, mà còn tạo thành xu hướng li tâm của khu vực xung quanh cũng như sự gia tăng của quyền lực thống trị của các quốc gia ấy. Vì vậy phương thức lãnh đạo dựa vào danh vọng và quyền uy chuyển sang phương thức thống trị dựa vào sự khuếch trương quyền lực vốn dĩ chứa đựng ít mạo hiểm nhưng lại gia tăng lâu dài.
Sự khắc chế bản thân của quốc gia trung tâm cũng hoàn toàn không dễ dàng gì. Nhà Tống đã thừa nhận nền tái độc lập của Việt Nam trước sự uy hiếp của nhà Kim.Nhà Nguyên thừa cơ nhà Tống suy thoái mà khinh suất nhà Tống, đồng thời cả khu vực Châu Á đẩy ưu thế quân sự lên đến cực điểm của nó. Tuy nhiên sự bành trướng quân sự của nhà Nguyên ở Đông Nam Á và Nhật Bản đã gặp phải “nút thắt cổ chai”. Phương thức trị lý của chính nhà Nguyên và các vấn đề thống trị nội bộ phát sinh từ đó cuối cùng đã lật đổ vương triều này. Ngoài ra, sự uy hiếp của Mông Cổ đã kích thích các quốc gia Hoa Bắc đang lâm nguy manh nha hình thành và phát triển ý thức dân tộc. Triều Minh đã tích luỹ được kinh nghiệm lịch sử từ sự khuyếch trương quá độ của nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương, người sáng lập triều Minh đã đưa những kinh nghiệm này vào cuốn Tổ Huấn như sau:
“Các quốc gia hải ngoại chẳng hạn Việt Nam, Chiêm Thành, Triều Tiên, Xiêm La, Lưu Cầu (quần đảo Okinawa), Tây Dương (nam Ấn Độ) và Đông Dương (Nhật Bản) cùng các tiểu quốc phía nam khác, tứ bề ngăn núi cách biển, khoảng cách diệu vợi, chúng ta không thể hiểu biết tới những vùng đất ấy, sắc lệnh cũng không thể đến được với dân chúng những vùng ấy. Những nơi ấy không thể sản xuất đủ lượng hàng để chúng ta duy trì quản lý, Nếu họ không tự lượng sức mình mà đến quấy nhiễu chúng ta ắt sẽ bị thảm hoạ. Nhưng nếu họ không quấy nhiễu chúng ta, chúng ta không cần dấy binh đánh họ, nếu không ta sẽ rước hoạ vào thân. Trẫm e rằng con cháu đời sau ỷ vào sự giàu có và quyền lực của Trung Quốc và long thèm khát vinh quang quân sự mà dấy binh đi đánh những nước ấy mà không có lý do chính đáng sẽ gây ra nhiều tổn thất sinh mạng. Trẫm nhắc nhở hậu thế rằng điều này bị cấm”. Hoàng đế Vĩnh Lạc đời sau rõ rang không nghe theo lời di huấn của tổ tiên đã gặp phải thất bại thảm hại trong cuộc chiếm xâm lược Việt Nam. Ở chừng mực nào đó, sự kiện này có thể chứng thực quy luật nói trên.
Nếu địa vị trung tâm của Trung Quốc không thể được duy trì bằng vũ lực thì ắt phải được duy trì bằng cách phương thức khác. Một Tử Cấm Thành vĩ đại không phải chỉ là một biểu tượng kỷ niệm tự mãn về sự ưu thế. Đồng thời chủ trương xác lập phương thức lãnh đạo bằng đạo đức có thể bị coi là một mô thức khiêu chiến chứ không phải là sự thoả mãn tự ngã. Sự tối đa hoá của danh vọng bắt buộc Trung Quốc phải sở hữu chế độ lễ nghi tôn ti có trật tự, một kiểu đức hạnh nhân từ cộng với tư thế quan phương đáng tin cậy. Thái độ của các quốc gia khác đối với địa vị trung tâm của Trung Quốc đương nhiên là phức tạp hơn nhiều. Tuy Trung Quốc đã cung cấp cho khu vực này một bộ lộ trình “ưu thế nhất” và cục diện văn hoá ngôn ngữ tương đồng (Trung Quốc truyền thống đã không cần khuếch trương cái gọi là Học viện Khổng Tử), nhưng khó có thể tưởng tượng các quốc gia khác sẽ dễ dàng chấp nhận địa vị thứ cấp của mình. Họ có thể bí mật nghị luận về trạng thái hư vi khi liên minh với Trung Quốc, về thái độ tự mãn quá độ của Trung Quốc, về động cơ Trung Quốc cũng như sự ngộ nhận của hoàng đế và quan lại Trung Quốc. Mặc dù quốc gia trung tâm có thể rơi vào “trạng thái quên tức thời” nhưng ánh nhìn của các quốc gia xung quanh thường là rất nhạy bén, đồng thời ký ức về lòng hận thù của họ tồn tại rất lâu dài.
Ngoài ra, quốc gia trung tâm có thể vận dụng mô thức hấp dẫn để kiến tạo nội hàm khu vực biên giới. Đối với Trung Quốc, lãng thổ biên giới rộng rãi luôn đầy ắp những gánh nặng. Nó đòi hỏi luôn tiếp tục cảnh giác và duy trì một lực lượng quân đội thường quy, có thể khiến cho giai cấp thống trị phải mất nhiều công sức để phân phối trách nhiệm thống trị nội bộ. Chẳng hạn Woodside từng nói, “cho đến gần đây đối với các nhà lý luận chính trị Trung Quốc, vấn đề không phải trung tâm đế quốc tạo nên sự kém phát triển ở khu vực biên thuỳ, mà là sự uy hiếp mà khu vực biên thuỳ phải đối mặt đã kéo theo tạo thành sự kém phát triển của trung tâm”. Không phải chỉ ở khu vực biên giới mà nhiều khu vực dân tộc thiểu số ở nội địa như miền tây Tứ Xuyên và Quý Châu cũng như vậy. Vấn đề hoà bình là đại sự đầu tiên mà nhà Minh phải nghĩ tới để đối phó với sự uy hiếp của các nơi khác. Chính vì vậy, nhà Minh đã duy trì lực lượng quân đội lên đến 4 triệu người, gấp 10 lần quân đội thường quy ở Châu Âu. Các dân tộc du mục luôn giữ ý định quấy nhiễu biên giới, thông qua các phương thức đánh phá hay dụ dỗ người nông dân định cư thoát ly đế quốc để đạt được mục đích của mình. Trung Quốc nằm ở vị trí trung tâm nhưng không phải mang địa vị bá quyền, trong tình hình đó lộ trình ngoại giao của Trung Quốc bao gồm 2 thái cực hợp logic: tiêu diệt đối thủ hoặc tự cô lập, ngoài ra còn bao gồm một kiểu “lộ trình trung gian” không ngừng điều tiết. Tiêu diệt đối thủ có lẽ sẽ đạt được sự thoả nguyện nhưng cái giá phải trả là rất lớn. Năm 1696 hoàng đế Khang Hy khi đuổi Zungars Galdan ra khỏi lãnh thổ đã huy động lực lượng lên đến 83 ngàn quân (cộng với 6 ngàn chiến xa) so với 5 ngàn quân đối phương. Việc tự cô lập ít tốn kém hơn thế so người Trung Quốc phải xem xét tình hình tự cấp tự túc của mình mà quyết định thực hiện hay không. Tuy nhiên, đây là một chính sách tiêu cực vì nếu bỏ ngỏ vùng đất ngoài biên ải cho các dân tộc khác cai trị sẽ làm Trung Quốc đánh mất các lợi ích ngoại giao. Chính sách cấm cửa hàng hải đã giới hạn tầm nhìn của đế quốc này rất nhiều, nay lại tự cô lập trên bộ sẽ làm Trung Quốc suy yếu hơn.
“Con đường trung gian” rộng rãi đòi hỏi quan tâm đầy đủ lợi ích cơ bản của các bên, đồng thời phải duy trì lễ nghi “thiên hạ”. Tuy nhiên mối quan hệ giữa trung tâm và các quốc gia ngoại vi thường là sự sắp đặt thiết thực nhưng trên bề mặt đều phải tuân thủ nguyên tắc sắc phong của quốc gia trung tâm, chứ không phải sự hiệp thương bình đẳng. Cái ẩn chứa đằng sau lễ nghi này là cục diện bất đối xứng. Các quốc gia muốn giữ mối quan hệ với Trung Quốc đều phải bày tỏ sự quy thuận, khi ấy cả khu vực đều rất ổn định. Tôn trọng hay là quy thuận đều không có nghĩa là quy thuộc mà chỉ là sự thừa nhận của mô thức quyền lực bất đối xứng hiện hữu mà thôi. Các quốc gia khác cần Trung Quốc thừa nhận quyền tự trị của họ vì nếu không đạt được sự thừa nhận, các quốc gia ấy rất dễ bị tổn thương. Các kiểu bang giao thừa nhận quyền tự trị hay quy thuận trong lịch sử đều là bất bình đẳng, thế nhưng nó làm thoả mãn lợi ích của các bên.
Hiện thực cực hoá là một khía cạnh dị thường quan trọng trong vị thế trung tâm truyền thống của Trung Quốc. Đơn giản mà nói Trung Quốc tương đối yếu thế ở phương bắc, nhưng ở phương nam thì mang lại cục diện an toàn. Ở phương bắc, Trung Quốc phải đối mặt với nhiệm vụ điều tiết quân đội bảo vệ biên giới; nhưng ở phương nam nhiệm vụ căn bản mà Trung Quốc phải đối mặt chỉ là quản lý hành chính ở biên cương. Lúc các dân tộc du mục dành lấy chiến thắng các vùng lãnh thổ phía bắc cũng là lúc người Trung Quốc phải tiếp cận giải quyết vấn đề khó khăn ấy. Khi chinh phục Trung Nguyên, các dân tộc du mục dời căn cứ địa của mình vào theo. Mô thức ấy có lẽ thành công nhất là trường hợp kiến lập nhà Thanh, một dãy đất rộng rãi từ Tây Tạng kéo dài cho đến vùng Đông Bắc bao la đều nằm dưới sự thống trị của họ. Ở phía nam, nhiệm vụ chủ yếu mà Trung Quốc phải giải quyết chỉ là duy trì trật tự mà không phải là đối phó hiểm nguy. Thế nhưng biên giới phía nam cũng rất quan trọng bởi vì cái giá của “sự bành trước quá độ của đế quốc” là cao nhất mà sự thất bại của cuộc chiến xâm lược Việt Nam giai đoạn 1407-1427 nói trên là một minh chứng sống động. Sự uy hiếp của phía bắc Bắc và sự ổn định của phía Nam đều có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chỉ khi nào phía bắc bình ổn an toàn, người Trung Quốc mới tiến hành bành trướng ở phía nam. Vả lại, khi người Trung Quốc tập trung chú ý xử lý sự uy hiếp của các dân tộc du mục phía bắc thì tài nguyên mà khu vực phía nam cung cấp là hết sức quan trọng. Ở cấp độ sâu rộng hơn, sự khuếch đại của quan niệm quốc gia trung tâm và tầm ảnh hưởng mang tính cấu trúc của vị thế trung tâm Châu Á ở cả hai miền Nam Bắc đều rất rõ ràng và dễ nhận biết cho dù hai phương thức có hình thức thể hiện khác biệt nhau.

Quản lý siêu vị thế
Cũng giống như cấu trúc chủ yếu trong quản lý nội bộ, quan niệm chính trị của ngoại giao Trung Quốc đều là giá thành thấp - tư thái thấp. Việc duy trì vị thế trung tâm đòi hỏi phải duy trì một trật tự quốc tế ổn định. Từ sự bất đối xứng về lực lượng, tính ổn định chưa hề là sự cân bằng tuyệt đối giữa các quốc gia bình đẳng mà thường đòi hỏi sự cân bằng đối xứng với các vai trò. Điều này cũng giống như một cái trục Calder, muốn giữ thế cân bằng, mảnh trung tâm phải đạt thấ cân bằng với các mảnh nhỏ xung quanh trong môi trường có sự dao động không khí tác động ngoại diên.
Mấu chốt để nền ngoại giao mang tính duy trì đạt được thành công có thể tìm thấy trong tác phẩm kinh điển mà Vương Canh Vũ trích dẫn từ trong bộ sách của John K. Fairbank. Tác giả miêu thuật ngoại giao thời Minh mang ba đặc trưng chính: ưu thế đạo đức, công bằng và tính bao dung. Các nhà nho nhấn mạnh việc mang nhân nghĩa đãi người để kích thích hành vi đạo đức là hết sức quan trọng. Trường phái Machiavellian nhấn mạnh ở lực lượng dương tính nội tại, chúng sẽ góp phần làm tăng nội lực mang tính cưỡng chế cho toàn bộ hệ thống. Từ chỗ cái giá phải trả là cực thấp, Trung Quốc đã đạt được thành công cực cao mà không cần dùng đến các thủ đoạn cứng rắn, chỉ dùng phương thức “ngoại nhu nội cương” để đạt mục đích của mình.
Không dựa dẫm là điều rất quan trọng, thái độ công bằng bình đẳng đối với bất kỳ vai trò trọng tài nào mà Trung Quốc thể hiện đều hết sức cần thiết. Lợi ích và quyền lực của Trung Quốc trong khu vực phân bố không đồng đều, thái độ tích cực của việc làm trọng tài cũng có sự khác biệt, tuy nhiên việc thể hiện thái độ công bằng là tối ưu. Đặc trưng tính bao dung thể hiện quan trọng nhất trong thời kỳ thống trị của Hồng Vũ và Vĩnh Lạc, lúc đó biên giới phía nam của “thiên hạ” vẫn chưa được xác định rõ ràng. Quan niệm “thị vô ngoại – không có gì nằm ngoài vòng Trung Hoa)” ngụ ý tất cả các nhà thống trị nước ngoài đều có liên hệ đến hoàng đế Trung Hoa, lãnh thổ và nhân dân của họ đều có thể nhận được sự nhân ái của đế quốc. Cả ba đặc trưng này hợp thành nhất thể, Trung Quốc nằm ở trung tâm, song nó hợp pháp hoá nhờ vào mỹ đức, dẫn đến những tác dụng đều giải và kích thích đồng thời những quốc gia tham gia vào cũng không bị bài xích ra ngoài vòng.

Mô thức trị lý ngoại giao truyền thống nổi tiếng nhất của Trung Quốc là hệ thống triều cống. Tôi tránh đề cập đến vấn đề này, bởi vì từ khi Fairbank xuất bản cho đến nay do tính phổ biến vốn có của quan điểm này đã dẫn đến ít nhiều sự đả kích vào sự rập khuôn về ý nghĩa và tính hiệu quả của nó. Hệ thống sắc phong triều cống thường được giả định là chế độ lễ nghĩa của bá quyền khu vực, nó hàm ý thể hiện tính quy thuận của quốc gia triều cống và quyền ưu tiên của Trung Quốc. Điều thể hiện rõ nét nhất là quan điểm và tính trung tâm của Trung Quốc trong bài viết này không tương đồng với hệ thống sắc phong triều cống mà Fairbank đề cập, bởi cơ sở lý luận của cả hai lý thuyết hoàn toàn khác nhau.
Hệ thống sắc phong triều cống trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc có cội rễ sâu xa. Sự thay thế lẫn nhau giữa triều cống và sắc phong đế quốc bắt đầu từ trong lễ nghĩa triều cống, tuy nhiên nó chính thức hình thành từ thực tế nhà Minh nhận thức được sự hạn chế năng lực của chính mình. Cũng giống như tác giả Vương Canh Vũ đề cập đến, hệ thống sắc phong triều cống Trung Quốc chính thức chế độ hoá từ thời Minh, một phần bắt nguồn từ việc nhà Minh khống chế mưu đồ chiếm lĩnh vùng đất Trung Nguyên rộng lớn của các dân tộc Mông Cổ, nhà Minh nhận thức rằng hành vi bành trướng chỉ dẫn đến thất bại cuối cùng, kèm theo nó là sự suy thoái và cạn kiệt tài nguyên. Do vậy kinh nghiệm lịch sử của Mông Cổ đã chỉ ra một bài học quý giá cho nhà Minh, tinh thần khai phá được phát sinh từ đó có thể tìm thấy minh chứng từ các sự kiện Trịnh Hoà xuống Nam Dương. Thách thức thật sự nằm ở chỗ nắm bắt được thước đo (tiêu chuẩn), đồng thời khi đế quốc mở rộng bành trướng ra bên ngoài phải tuyệt đối tránh thái độ thái quá. Hệ thống sắc phong triều cống vốn quy phạm hoá lễ nghi và chế độ điển chương thường ngày đã đáp ứng được nhu cầu thực thể chính trị của đế quốc trung tâm đối với các khu vực xung quanh. Các chuyến đi sứ quan phương định kỳ và quy phạm hoá ở Bắc Kinh hoặc Nam Kinh đều đã chứng minh các quốc gia xung quanh quy thuận địa vị trung tâm và ưu thế của Trung Quốc, đồng thời chính các chiếu kiến chính thức của Trung Quốc đã thể hiện Trung Quốc thừa nhận tính hợp pháp và quyền tự trị của các nhà nước xung quanh. Sự quy thuận đổi lấy sự thừa nhận quyền tự trị có ý nghĩa rất lớn lao trong việc duy trì sự ổn định khu vực. Trung Quốc đã cắm rễ sâu trong hệ thống quốc tế vốn không tồn tại lực lượng đơn cực, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa ngoại giao quan phương và liên hệ thương mại phức tạp. Tác giả Vương Canh Vũ đã tiến hành tổng thuật toàn diện quá trình phát triển và diễn biến của thương mại giữa Trung Quốc và hải ngoại. Ông ta cho rằng từ trước thời Minh, thương mại phát triển nhờ vào dân số, nguồn nguyên liệu và tài chính, trong đó hình thái ý thức và sự hạn chế của nhân tố chính trị là tương đối thấp. Kể cả từ đời Minh trở về sau, Trung Quốc đủ điều kiện để phát triển thành đế quốc hàng hải nhưng tư tưởng Nho gia coi rẻ ngành thương nghiệp, cho rằng cần phải khống chế thương mại ở cấp quan phương, chính điều này đã trở thành nhân tố không chế chủ yếu của nền kinh tế và cải cách khoa học kỹ thuật. Mặc dù tồn tại sự khống chế và giám sát chặt chẽ của quan lại, thương mại tư nhân vẫn âm thầm tồn tại và phát triển. Một số mô thức thương mại được phát triển từ hệ thống sắc phong và triều cống của chính phủ (chẳng hạn như việc thu mua ngựa từ vùng Kazakhstan của nhà Thanh), thế nhưng những chuyến thương mại này suy cho cùng cũng là đáp ứng các mục đích quan phương. Ý đồ chủ yếu của hệ thống sắc phong triều cống là thông qua sự trao đổi giữa tự trị và quy thuận để đảm bảo sự an toàn chứ không phải là phát triển kinh tế.
Từ giữa thế kỷ 19 về sau theo đà thâm nhập liên tục của các quốc gia phương Tây, khu vực Châu Á dần dà bước vào cục diện giải trung tâm hoá. Quyền ưu tiên của Trung Quốc ở Việt Nam bị nước Pháp thách thức trực tiếp, quyền tương tự ở Triều Tiên bị Nhật Bản đoạt lấy, quan hệ phụ thuộc giữa Thái Lan và Trung Quốc cũng dần tiêu vong. Trung Quốc không còn là một trung tâm đầy hấp dẫn mà dần dà trở thành kẻ chịu hại trong nền kinh tế chính trị toàn cầu vốn bị các thế lực phương Tây nắm giữ. Trong bối cảnh toàn cầu hoá đương đại, Trung Quốc một lần nữa nổi lên làm trung tâm khu vực, các giá trị mang tính di sản mà Trung Quốc sở hữu từ trong lịch sử của một trung tâm truyền thống hiện vẫn thể hiện tầm quan trọng của nó.

Dẫu không có sự thâm nhập của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, những khuyết điểm nội tại của địa vị trung tâm Trung Quốc có thể đã dẫn đến sự thích ứng và điều chỉnh tiến bộ hơn của nó ở khu vực Đông Nam Á. Tôi cho rằng giá như Trung Quốc đánh bại được nước Anh 1840 rồi chiến thắng Nhật Bản 1895 thì tình thế nội địa chắc đã có những cải thiện lớn lao. Thế nhưng mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia Châu Á khác đã bị sự xâm nhập của phương Tây làm thay đổi, dù cho sự xâm nhập ấy là một phương thức hoà bình. Nói chung các quốc gia Châu Á khác chưa từng có trải nghiệm phòng ngự mang địa vị trung tâm của Trung Quốc. Chính sự lựa chọn tự cô lập của Nhật Bản và Hàn Quốc đã làm họ càng suy thoái và bế tắc hơn. Có lẽ khoa học kỹ thuật và cải cách thương mại đã làm cho Trung Quốc trở thành một quốc gia đầy thách thức ở Châu Á, nhưng dù sao đi nữa giai đoạn thứ nhất của toàn cầu hoá đã làm tổn hại đến mối quan hệ bất đối xứng giữa Trung Quốc và các nước lân bang, đồng thời đẩy các nước lân bang càng rời xa Trung Quốc. Từ trước cuộc chiến tranh Nha phiến, sự xuất hiện của phương Tây ở Châu Á giống như sự xâm nhập của các đế quốc trước đây. Dù là dựa vào sắt thép mà không phải đạn pháo, sự thâm nhập đường hàng hải theo phương thức mới của phương Tây đã tái cấu trúc ý thức khu vực, đồng thời cũng tái cấu trúc bối cảnh cơ bản của quan hệ đối ngoại Trung Quốc. Trung Quốc vẫn có thể vẫn là một trung tâm thứ cấp, một trung tâm khu vực mà không phải là “thiên hạ”. Edward Luttwak đã diễn tả rất chính xác sự chuyển biến của ý thức Trung Quốc: đó không phải là sự áp bức và lăng nhục mà là kết quả của tính hiện đại.
---hết phần 1---
Phần 2:
Kinh nghiệm lịch sử Trung Quốc

Bài học cho Trung Quốc thời toàn cầu hoá

Nguồn: Người dịch
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.