Hãy cứ thêm thơ cho đời thêm vui (Về tập thơ Đoản khúc sáu mươi của Nguyễn Công Lý)


Trong tay tôi là tập thơ Đoản khúc sáu mươi của Nguyễn Công Lý. Tôi muốn nói ngay cái ông này không phải là nhà thơ mà là một giảng viên đại học, một nhà nghiên cứu không chỉ văn học mà còn cả văn hóa, ít nhiều đang có triển vọng thành học giả. Nếu tôi không lầm thì hơn mười năm qua, trong đội ngũ PGS.TS. Ngữ văn cùng trang lứa, cả ngoài Bắc lẫn trong Nam, không ai cho ra mắt bạn đọc nhiều thành quả nghiên cứu như Nguyễn Công Lý. Mà ở Nguyễn, tuy chưa phải đã bề thế nhưng phải chăng vẫn là người dẫn đầu về thành quả nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam vốn là một kho báu đang rất cần khôi phục diện mạo tổng thể và khám phá những giá trị tư tưởng thẩm mỹ dưới góc nhìn văn học một cách thấu đáo hơn để từ đó cũng là đảm bảo việc khôi phục diện mạo văn học Việt Nam thêm hoàn chỉnh. Hiện tình là các vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Thiền sư, về Phật thuyết, kinh kệ thì rất mực uyên bác và đã cho ra mắt không biết bao nhiêu công trình về Phật học, nhưng quí vị đó lại không phải là những chuyên gia nghiên cứu văn học. Ngược lại, các chuyên gia văn học, dĩ nhiên cũng uyên bác về văn học nhưng sự hiểu biết về Phật học lại chưa có là bao. Cho nên ở đây đang rất cần có những cầu nối, nghĩa là những người vừa uyên bác về Phật học vừa am hiểu sâu sắc văn học. Nguyễn Công Lý là một nhà nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam đã có thâm niên và thành quả, nhưng trước ngày thống nhất đất nước lại đã có thời gian học tập và tìm hiểu về Phật - Nho - Lão, trong đó có hơn mười năm nghiên cứu về Phật học. Thêm nữa lại được Phật Tổ ban cho một trí nhớ khá tốt, cùng với niềm say mê Phật học đến nay vẫn rất vững bền. Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn về Văn học Phật giáo thời Lý - Trần: diện mạo và đặc điểm đã bảo vệ xuất sắc cách đây 15 năm, mấy năm sau in ra, đã được nhận hai giải thưởng của Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (2003). Tiếp theo, Nguyễn cũng đang đeo đuổi hai công trình là Văn học Phật giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến đầu thế kỷ thứ X và Văn học Phật giáo thời Lê - Nguyễn. Hy vọng không lâu nữa, hai công trình này sẽ ra mắt bạn đọc. Nếu được thế thì Nguyễn là người dẫn đầu về văn học Phật giáo Việt Nam, chứ ai khác đâu.
Nguyễn Công Lý đã, đang và sẽ là như thế. Nhưng té ra với Nguyễn còn có một nàng thơ cứ lảng vảng dính líu bên mình từ thuở tóc còn xanh cho đến nay đã hoa râm. Nguyễn đã có hơn một trăm rưỡi bài thơ. Đoản khúc sáu mươi này là tập thơ gồm sáu mươi bài được chọn trong tổng số đó. Bài sớm nhất là vào năm 1972, gần nhất là năm 2014 này. Chưa nói thơ Nguyễn hay đến đâu. Chỉ nhìn qua thì thấy thi hứng, thi tình, thi trường, thi dạ của Nguyễn cũng khá phong phú, thể hiện dáng dấp con người văn hóa, học thuật mà cũng đa cảm của Nguyễn khá rõ. Có thơ về mẹ (Mẹ), về vợ (Tương cảm), về quê hương (Chiều Nha Trang, Về quê, Gợi nhớ, Đêm ở quê, Trở lại quê nhà, Xuân nhớ quê), về tình sư đệ (Tức sự I, II, Tâm sự thầy tôi, Thầy tôi), về một số địa danh từng đến (Múa xòe Tây Bắc, Đồi cát Phan Thiết, Với Côn Sơn), về Sài Gòn nơi gia đình Nguyễn sinh sống hiện nay (Bất chợt Sài Gòn, Sài Gòn ngẫu tác), về các mùa (Cung chúc tân xuân, Mùa xuân, Xuân về, Xuân hiểu, Xuân nhật khai bút, Khói lửa mùa xuân, Vào hè, Chớm thu), về hoa (Phong lan, Mai chiếu thủy, Hoa cúc, Hoa vạn thọ), về Phật đạo (Phật tâm ca, Tụng ca Tổ sư Minh Đăng Quang, Đạo Phật khất sĩ cảm tác, Tăng già khất sĩ), về đại thi hào của Trung Hoa (Nghĩ về Đỗ Thiếu Lăng tiên sinh, Nghĩ về Lý Bạch, Với Lý Bạch, Lại nghĩ về Lý Bạch, Nghĩ về Vương Duy), về danh nhân của đất nước (Trần Thái Tông hoàng đế, Hưng Đạo đại vương, Nghĩ về Chu Văn An, Nghĩ về cụ Ức Trai, Nghĩ về cụ Bạch Vân, Viếng mộ Tố Như, Nghĩ về Tố Như tiên sinh, Viếng mộ Uy Viễn tướng công). Ngoài ra là thơ về chính lòng mình (Cảm tác, Cảm hoài, Thuật hoài, Khát vọng, Tự bạch, Trần tình)…
          Thơ của Nguyễn viết theo hình thức đoản khúc, có nghĩa là những bài thơ ngắn, chỉ bốn câu, vừa Hán vừa Việt. Trong đó có thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, lục bát tứ tuyệt, lục ngôn tứ tuyệt, kể cả tứ tuyệt biến thể. Mà đã là đoản khúc thì lời ít nhưng ý phải nhiều mới là thơ hay. Để có được điều đó thì phải có một kiểu tư duy thơ khác với tư duy thơ của loại thơ tự do chuồi theo cảm xúc mà số câu số chữ không hạn định. Ở đây phải coi trọng tứ thơ hơn ý thơ, thiên về gợi hơn là tả, thường chỉ là sự bộc lộ một nét cảm xúc, tâm tình, tư thế, thái độ, suy tư, ấn tượng, một thoáng nhìn thế giới, con người, thời gian, không gian. Là một nét nhưng phải là một nét có hồn, nét ra nét để từ một nét mà bùng nổ, mà lan tỏa thành một thế giới thơ, tựa như một nguyên tử bé nhỏ nhưng cũng là cực mạnh cực lớn. Đường thi của Trung Hoa xưa, đặc biệt là những bài thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt lừng danh hơn ngàn năm nay với nhân loại chính là sản phẩm tuyệt diệu của thể loại thơ lời ít ý nhiều với những đặc trưng thi pháp như thế.
           Đoản khúc sáu mươi của Nguyễn Công Lý đi theo trường phái thi ca này đã có được gì ? Xin nhờ bạn đọc cho ý kiến. Riêng tôi thì thấy trong sáu mươi đoản khúc này, đã có những bài xem ra có vẻ như đã ít nhiều chạm tới những điều vừa nói đó. Dĩ nhiên trong đó có phần là sáng tạo, có phần là chịu ảnh hưởng đâu đó của các bậc tiền nhân. Bài Xuân nhật khai bút viết năm 1978 là thế. Hai câu đầu: Nguyên đán nghiễn bút khai/ Hạnh phúc quảng tấn lai thì chỉ là hai câu văn thông tấn, đã có gì là thơ. Nhưng hai câu sau: Cử đầu thanh thiên chiếu / Vọng ngoại sổ chi mai thì đúng là có thơ rồi. Có từ một cái thoáng nhìn mà thấy cả một bầu trời xanh trong, lồng lộng, thăm thẳm của trời xuân và dưới cái nền trời xuân đó là mấy cành mai. Đúng là xuân đã đến với lòng người. Ở đây có thể vẽ thành một bức tranh xuân có hình khối, đường nét, màu sắc, theo luật viễn cận, đủ gợi cảm giác man mác, mênh mang, thanh sơ, êm ả, nên thơ của đất trời vào xuân. Bài Xuân hiểu viết năm 1979 được dịch thơ: “Mai vàng một đóa khoe tươi / Vài con bướm lượn mỉm cười với bông / Trời hồng ló dạng phương đông / Mùa xuân đã đến biết không hỡi người?”, nguyên tác là ngũ ngôn tứ tuyệt chữ Hán mà lời dịch là lục bát tứ tuyệt thì độ cô đúc ít nhiều đã nhường bớt cho độ êm ả của thơ, nhưng vẫn đủ gây cho người đọc một khoái cảm thoáng qua mà đọng mãi. Khoái cảm khi nhìn thấy ở buổi sáng sớm xuân này vài con bướm lượn mỉm cười với mấy bông mai vàng. Rồi nữa, vừa chợt thấy “Trời hồng ló dạng phương đông” thì quay ra hỏi: “Mùa xuân đã đến biết không hỡi người?”. Sao lại hỏi như thế nhỉ! Không, lời mời gọi đấy. Mùa xuân đến đẹp quá, vui quá, mời mọi người ra mà đón nhận, mà thưởng thức cái khoảnh khắc trời cho này, mà nhìn cái đẹp tuyệt trần cảnh bướm lượn mỉm cười với mai vàng nên thơ này. Bài Tức sự (kỳ nhất) (kính tặng Thầy Nguyễn Đình Chú) chính là viết tặng tôi cũng là vậy. Bốn câu ngũ ngôn chữ Hán. Trong đó ba câu đầu cũng vẫn là ba câu văn thông tấn với lời dịch: “Ta, cậu học trò nghèo / Ở nhờ nhà thầy giáo / Thầy trò tình sâu nặng” chẳng có gì là thơ. Nhưng với câu cuối “Bàn chuyện, cười ha ha” thì đúng là có thơ rồi. Thơ từ tiếng “cười ha ha” chứ còn gì. Cười ha ha là cười thoải mái, cười ra cười. Trong đó là tất cả tình sâu tình nặng của thầy trò, chẳng cần nhiều lời gì khác để bày tỏ. Thơ đoản khúc, đặc biệt là tứ tuyệt, về cấu tứ thường thì ở ba câu đầu, chỉ là câu thông tấn, câu lót đường cho sự bùng nổ thơ ở câu cuối. Bài thơ Sông lấp nổi tiếng nhất của Tú Xương chẳng phải là thế sao. Ba câu đầu: “Sông kia rày đã nên đồng / Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai / Đêm nghe ếch réo bên tai ” thì đúng là ba câu văn thông tấn, báo chí, có gì là thơ. Nhưng với câu cuối “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” thì đúng là đã bùng nổ thơ rồi. Lời bình rất mực tài hoa năm xưa của tác giả Vang bóng một thời về bài thơ Sông lấp từng chỉ ra như thế đó. Bài Chiều Nha Trang ít nhiều đã có dáng dấp cách cấu tứ này. Ba câu đầu: “Tịch dương hắt xuống biển xanh / Nhấp nhô sóng trắng bên gành liêu xiêu / Nha Trang còn chút nắng chiều” là ba câu thơ tả cảnh chiều Nha Trang nghe cũng thấy hay hay như thơ tả cảnh chiều ta từng gặp đâu đó về nơi nào đó. Vậy thôi. Nhưng phải đến câu cuối “Thắp lên để tiễn người yêu đi về” thì đúng là gây bất ngờ mà thú vị cho người đọc rồi. Ai lại biến chút nắng chiều thành ngọn đèn thắp lên để tiễn người yêu đi về sau đó khi bóng đêm đã xuống. Chiều Nha Trang tưởng rằng chỉ là bài thơ tả cảnh chiều không ngờ lại thành bài thơ tình. Không thú vị sao! Thơ phải có hồn đã đành nhưng còn phải có triết. Bài Liên tưởng viết theo thể lục ngôn tứ tuyệt ít nhiều đã có điều đó: “Ô kìa ! một chiếc lá vàng/ Quấn quanh theo làn gió nhẹ / Kiếp người trong cõi lang thang / Bồng bềnh về đâu như lá ?”. Đọc bài thơ này, tôi thoáng ngỡ như đang nghe ca từ Cát bụi của Trịnh Công Sơn và cũng nhớ đến câu thơ của Huy Cận trong bài Tràng giang: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
Mạo muội dăm ba điều như thế về Đoản khúc sáu mươi của Nguyễn Công Lý, không biết được gì và chưa được gì. Chỉ tin chắc rằng với Nguyễn mà có thêm thơ thì đời cũng thêm vui và cứ thế mà thêm thơ cho đời thêm vui.
Yên Hòa thư trai Giáp Ngọ, mạnh hạ, 
sáu mươi năm chiến thắng Điện Biên
07 - 5 - 2014
GS.NGND. Nguyễn Đình Chú - Trường ĐHSP Hà Nội 


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.