GS.TS. Ngô Văn Lệ: Khoa học xã hội hội nhập và phát triển: một số vấn đề đặt ra

KHOA HỌC XÃ HỘI HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA


Ngô Văn Lệ

Trong những năm qua giáo dục nói chung và giáo dục đại học đại học Việt Nam nói riêng đã có những đổi thay, tạo những tiền đề cho quá trình hội nhập. khu vực và quốc tế. Là một trong hai trường đại học chuyên đào tạo và nghiên cứu các ngành thộc lĩnh vực KHXH&NV, trường ĐH KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM đã có lợi thế so sánh trong việc triển khai hợp tác với các trường, viện nước ngoài trong đào tạo và nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên phạm vi cả nước, nhất là địa bàn thuộc Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Các hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo với các đối tác nước ngoài đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho một số ngành cũng như nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, đồng thời cũng chia sẻ khó khăn về nguồn lực tài chính, trong giai đoạn đầu khi trường mới thành lập. Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác với các đối tác nước ngoài bên cạnh những mặt tích cực cũng bộc lộ những hạn chế yếu kém. Để hội nhập và phát triển, phát huy tiềm năng của một đơn vị nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành thuộc lĩnh vực KHXH&NV, cần phải thay đổi tư duy, cách thức hợp tác và đầu tư phát triển, mới mang lại những hiệu quả như mong muốn. Bài viết của chúng tôi, trên cơ sở hoạt động thực tiễn cua trường trình bày về một số họat động hợp tác trong những năm qua. Đồng thời nêu lên một số vấn đề đặt ra trong đổi mới tư duy cũng như cung cách đầu tư để khoa học xã hội hội nhập và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Từ khóa: khoa học xã hội, hội nhập, phát triển, phát triển bền vững.
1. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã sớm thấy vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của đất nước, góp phần bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng với việc chống ngoại xâm, chống giặc ngoại xâm, giặc đói, chính quyền mới rất quan tâm đế xóa nạn mù chữ và coi đây là một trong ba kẻ thù chính (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm). Bởi vì, “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh), nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đội ngũ trí thức cũ, động viên, vận động họ tham gia kháng chiến, kiến quốc. Nhờ một chính sách đúng đắn, nên đã tập hợp được đông đảo trí thức các lĩnh vực khác nhau tham gia vào công c uộc chống ngoại xâm và xây dựng và có nhiều đóng góp cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp vào tháng 9 năm 1960 đã đề ra đường lối chung về sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: “Phải sử dụng chính quyền nhân dân làm nhiện vụ lịch sử của chính quyền vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp, tư bản tư doanh, phát triển kinh tế ngoài thành phần quốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng văn hóa và kỹ thuật, biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại văn hóa và khoa học tiên tiến” . Trong văn kiện này tuy không có những câu riêng biệt để chỉ rõ những ngành khoa học cụ thể, nhưng “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật”đã hàm chứa nói đến các ngành khoa học trong đó có khoa học xã hội và nhân văn. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta không tổ chức đại hội, nên nước ta vẫn kiên trì đường lối đã được xây dựng ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III về khoa học kỹ thuật.
Sau năm 1975, non sông thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, nội dung của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới như sau:“Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt” . Trong điều kiện mới, sau 30 năm chiến tranh, muốn nhanh chóng phát triển, nâng cao đời sống cho nhân dân, chúng ta phải đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạnh khoa học là then chốt. Trong văn kiện này cũng không nêu lên nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội và nhân văn, nhưng thông qua nhữn nội dung đó cũng khẳng định mối quan hệ giữa các khoa học trong việc tạo ra động lực cho sự phát triển của đất nước.
Trong những năm tiếp theo của cộng cuộc xây dựng đất nước, những vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn càng được quan tâm hơn. Tại Đại đại biểu toàn quốc lần thứ V, sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật được đặt ra thiết thực hơn, tuy chưa có bước chuyển biến lớn như ở giai đoạn sau này:“Phải kết hợp chặt chẽ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, coi trọng phối hợp giữa các bộ môn khoa học bằng những hình thức hoạt động liên ngành để cùng nhau nghiên cứu giải quyết những vấn đề quan trọng”. Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, khi đất nước bước vào thời kỳ mới, khoa học xã hội cũng có những nhiệm vụ mới. Đó là “Thực hiện những biện pháp đồng bộ, có hiệu quả để sớm khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội. Nhiệm vụ chủ yếu của khoa học xa hội trong những năm tới tham gia đắc lực vào công tác lý luận của Đảng góp phần xây dựng cương lĩnh về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ quá độ, làm sang tỏ những vấn đề lý luận, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và nắm bắt nhanh nhạy những thành tựu lý luận của các nước anh em. Khoa học xã hội phải trở thành công cụ sắc bén trong việc đổi mới nhận thức, đổi mới phương pháp tư duy, xây dựng ý thức xã hội và nhân cách xã hội chủ nghia” . Còn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, khi đất nước đã đạt được những kết quả buốc đầu của sự nghiệp đổi mới,vai trò của khoa học xã hội được xác định: “Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường, quan điểm, ý thức và nhân cách đúng đắn, khắc phục những tư tưởng sai lầm. Trong những năm tới, nhiệm vụ của các ngành khoa học xã hội là vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của thế giới, nghiên cứu những vấn đề cơ sở lý luận để hoàn thiện và triển khai Cương lĩnh, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội và những văn kiện khác của Đại hội VII. Khắc phục sự chậm trễ của khoa học xã hội, đổi mới một cách căn bản nội dung và phương pháp giảng dạy các bộ môn khoa học Mác-Lênin, khoa học kinh tế, khoa học quản lý, phát triển nhanh các ngành kinh tế học, xã hội học, luật học, học, khoa học hính trị và khoa học quản lý, đặc biệt là khoa học quản lý kinh tế và quản lý nhà nước” . Trong văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, khoa học xã hội không tách thành một mục riêng rẽ, nhưng nhấn mạnh vai trò của khoa học ,cong nghệ: “Vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ…làm chỗ dựa khoa học cho việc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định phương hướng, bước đi của công nghiệp hóa, hiên đại hóa, xây dựng pháp luật các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế-xã hội” . Sau 15 năm đổi mới và phát triển, vai trò của khoa học và công nghệ được khẳng định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khoa học xã hội và nhân văn hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương chính ách phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hóa mới của Việt Nam” . Văn kiện Đại hội cũng nhấn mạnh đến: ”Tăng đầu tư của ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ. Sắp xếp, đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt chẽ nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học –công nghệ với khoa học xã hội và nhận văn”. Văn kiện Đại hội cũng nhấn mạnh đến hợp tác quốc tế: “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và cộng nghệ” . Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đòi hỏi nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học công nghệ: “Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng”. Còn đối với khoa học xã hội và nhân văn phải: “Phát triển khoa học xã hội và nhân văn, tiếp tục góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, giải quyết những vấn đề mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những nguyên tắc, nội dung cơ bản của phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển con người; nâng cao năng lực lãnh đạo và súc chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới…Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận; dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” . Cũng trong văn kiện này, hướng tới: “Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và nước ngoài, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài” .Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,không phân ra từng lĩnh vực khoa học,nhưng đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ của khoa học công nghệ trong những năm tới là :”Phát triển khoa học và công nghệ làm động lực nâng cao năng suất,chất lượng,hiệu quả,phát triển nhanh bền vững nền kinh tế.Đổi mới mạnh mẽ,đồng bộ tổ chức,,cơ chế quản lý,chính sách phát triển khoa học và công nghệ,gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học,công nghệ với mục tiêu ,nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.Hướng hoạt động khoa học và công nghệ vào phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế ,đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa,phát triển kinh tế tri thức.Phát triển,nâng cao năng lực khoa học,công nghệ có trọng tâm,trọng điểm,đồng bộ về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực.Tăng đầu tư nhà nước cho các trọng điểm quốc gia,đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa,huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học ,công nghệ.Đẩy mạnh nghiên cứu,ứng dụng tiến bộ khoa học ,công nghệ trong nước và tiếp thu,sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới”10.
Sự quan tâm đến các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thể hiện sự nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển khoa học ,công nghệ nói chung và khoa học xã hội nói rieng.Sự quan tâm đó không chỉ được thể hiện trong các văn kiện, mà còn được triển khai trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.Viện KHXH Việt Nam,với trên 40 viện chuyên ngành tập trung chủ yếu ở Hà Nội,với đội ngũ hùng hậu,có nhiệm vụ nghiên cứu tất cả các vấn đề khoa học xã hội của Việt Nam và thế giới. Ngoài ra còn có những viện nghiên cứu vùng,tập trung nghiên cứu những vấn đế có tính khu vực(như Nam Bộ,Tây Nguyên..). Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng thành lập các viện nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (như Viện nghiên cứu Phát triển Tp.HCM). Trong đào tạo đã thành lập những trường chuyên ngành, tập trung đào tạo các ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn (Trường ĐH KHXH&NV,ĐHQG-HÀ NỘI và Trường ĐH KHXH&NV,ĐHQG-HCM ). Bên cạnh những trường có tính đặc thù chuyên đào tạo các ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn, ở một số trường khác,kể cả các trường ngoài công lập, nhất là khối sư phạm cũng triển khai đào tạo các ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn. Một số hội chính trị nghề nghiệp (Hội khoa học Lịch sử Việt Nam và các Hội, Chi hội trực thuộc, Hội Dân tộc học /Nhân học Việt Nam và các Hội Chi hội trực thuộc, Hội Văn hóa dân gian Việt Nam) cũng tập trung các hoạt động của mình vào các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
2. Sự phát triển kinh tế của một quốc gia muốn thành công đòi hỏi phải triển khai khoa học quản lý và các khoa học xã hội và nhân văn khác phải tương hợp với sự phát triển kỹ thuật và công nghệ. Vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia ngày càng được thực tế khẳng định. Bởi vì có sự chênh lệch, mất cân đối trong phát triển khoa học xã hội và bản thân nền kinh tế. Bên cạnh đó, chính sự phức tạp của sự phát triển kinh tế-xã hội trong đời sống xã hội hiện đại đòi hỏi Nhà nước phải cân nhắc nhiều khía cạnh, dựa vào nhiều nguồn thông tin và tri thức khác nhau để quản lý quốc gia. Trong xu thế phát triển chung hiện nay, các nước đang phát triển công nghiệp hóa (các nước đang phát triển) được đặt trong điều kiện mới, trong đó tăng trưởng kinh tế phải có bước tiến về tiến bộ xã hội. Hiện nay, hơn lúc nào hết đã không còn cơ hội dung chiến lược tăng trưởng kinh tế trước và giải quyết các vấn đề văn hóa, xã hội sau. Đây thực sự là những đòi hỏi khách quan, phải coi trọng phát triển khoa học xã hội và nhân văn cùng với khoa học và công nghệ. Sự tách rời không có sự tương tác giữa các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học và công nghệ trong điều kiện hiện nay sẽ khó có thể phát huy được khả năng của từng ngành. Các kế hoạch dự án kinh tế muốn đạt hiệu quả đòi hỏi phải được thẩm định toàn diện, đa phương diện, nhưng phải chú trọng đến hiệu quả kinh tế, xã hội và hậu quả lâu dài đối với cuộc sống của nhân dân và môi trường sinh thái trong khu vực. Mặt khác, ngày nay xu hướng toàn cầu hóa tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi quốc gia dân tộc. Các dân tộc, các quốc gia muốn phát triển không thể đơn độc đứng ngoài xu thế phát triển đó, mà phải hội nhập vào các hợp lưu của các dòng chảy lớn mang tính toàn cầu. Muốn hội nhập vào các hợp lưu lớn, mà không bị hòa tan, vẫn giữ được bản sắc của mình, lại có khả năng thâu nhận những giá trị văn hóa của các dân tộc khác, biến những giá trị văn hóa đó thành của mình thì trước hết, mỗi dân tộc phải hiểu chính mình, mà muốn làm được điều đó thì không ai khác ngoài chính bản thân dân tộc đó với nòng cốt là đội ngũ trí thức hoạt động trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó khoa học xã hội nhân văn có vai trò rất lớn. Trong bối cảnh hiện nay, để phát triển, các trường đại học Việt Nam ngoài đầu tư của nhà nước, sự nỗ lực của từng trường, cần coi hợp tac quốc tế như là một nhân tố tích cực của sự phát triển cũng như của quá trình hội nhập.
Trong những năm qua Trường ĐH KHXH&NV, đã triển khai một số chương trình, đề tài thuộc các lĩnh vực văn hóa, xã hội và đào tạo… với các đối tác nước ngoài. Các đề tài, dự án được triển khai trong các hoạt động chính sau. Thứ nhất, các tài trợ cho nghiên cứu văn hóa truyền thống của người Việt cũng như của các tộc người thiểu số (như Qũy Toyota tài trợ cho nghiên cứu chữ Chăm, văn bản Chăm, lịch sử hát Bội). Cũng có những tài trợ cho việc nghiên văn hóa cư dân bản địa vùng giáp gianh các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận với các tỉnh Tây Nguyên (như Qũy JICA). Tuy nhiên, do quy mô tài trợ không nhiều, các nội dung nghiên cứu có giới hạn, nên không có sự tham gia đông đảo của cac nhà nghiên cứu cuyên nghiệp. Thứ hai, những tài trợ cho nghiên cứu những vấn đề kinh tế, xã hội Những vấn đề kinh tế xã hội thường bao hàm nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau, nên đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn và sự tham gia đông đảo của các nhà chuyên môn (như Dự án hợp tác Việt Nam-Canada “Giảm nghèo tại các địa phương ở Việt Nam: Xây dựng năng lực đánh giá chính sách và lập dự án”). Đây là một dự án lớn có sự tham gia của Viện KHXH Việt Nam và 5 trường đại học ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam và 2 trường đại học Canada. Kết quả của dự án này là đã xuất bản được 6 sách phục vụ cho đào tạo có liên quan đến xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Thứ ba là các tài trợ cho đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành học mới, xây dụng đề án thành lập các trung tâm mới. Các tài trợ đã giúp cho việc mở các ngành học mới như Nhân học, Quan hệ quốc tế, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành mới mở. Nhờ những tài trợ này, mà các ngành mới có điều kiện hoàn thiện chương trình, tiếp cận với các chương trình đào tạo tiên tiến. Thứ tư là các tài trợ cho các cuộc hội thảo với quy mô lớn. Đó là Hội thảo quốc tế “ Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: cách tiếp cận nhân học”. Đây là cuộc hội thảo quốc tế có quy mô lớn với sự tham dự của gần 150 nhà khoa học tham dự, trong đó có gần 90 nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Thứ năm là các hoạt động đào tạo của nhà trường. Trong những năm qua nhà trường đã có những hợp tác với các trường đại học như La Trope (Australia), Busan (Hàn Quốc) trong chương trình đào tạo 2+2 ( sinh viên học ở Việt Nam 2 năm, sau đó sang Australia hay Hàn Quốc học 2 năm) sau khi kết thúc chương trình được các trường cấp bằng. Ngoài ra, hàng năm có hàng 100 sinh viên nước ngoài theo học các chương trình đại học, thạc sỹ, tiến sỹ và có từ 6-700 lượt người nước ngoài theo học các chương trình ngắn về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử.
3. Hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế của Trường ĐH KHXH&NV trong 20 năm qua, nhìn từ khía cạnh hiệu quả của sự mở rộng hợp tác và đào tạo nguồn nhân lực là đã đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói cũng còn nhiều vấn đề cần phải có suy nghĩ mới, cách làm mới, để làm sao cho các trường đại học, nhất là khoa học xã hội và nhân văn với tính đặc thù của mình có thể hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Chúng ta không thể hội nhập, khi chúng ta vẫn duy trì mãi tư duy cũng như cung cách làm theo cách cũ được. Vậy để có thể mở rộng hợp tác, tăng tính hiệu quả của các hợp tác, bình đẳng trong hợp tác, chúng ta cần phải làm gì? Phải khẳng định một điều là những vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn luôn được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, các học giả và của nhiều đối tượng khác. Bằng chứng của sự quan tâm này là hàng năm có các tài trợ khác nhau để thực hiện các nghiên cứu khoa học, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học. Nhiều hoạt động khoa học có quy mô lớn với sự tham gia của nhiều học giả ở các nước khác nhau như Hội thảo Việt Nam học có hàng trăm học giả nước ngoài tham dự. Cũng có những Hội thảo quốc tế quy mô nhỏ hơn như Hội thảo quốc tế Hiện đại và động thái của truyền thống Việt Nam: cách tiếp cận Nhân học có gần 100 học giả nước ngoài tham dự. Sự quan tâm này còn được thể hiện ở chỗ nhiều trường đại học ở châu Âu, châu Mỹ, ờ Hàn Quốc, Nhật Bản …, mở ngành Việt Nam học có nhiều người theo học. Hàng năm Trường ĐH KHXH&NV cử các cán bộ sang giảng dạy tại các khoa Việt Nam học ở các nước Nhật Bản,Hàn Quốc,Pháp... Trong nhiều lần đi công tác nước ngoài, chúng tôi đã giành thời gian báo cáo một số vấn đề liên quan đến văn hóa, lịch sử, dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam ở một số trường tại Nhật Bản,Hàn Quốc,Đài Loan,Australia.Các buổi báo cáo đó không chỉ các trường diễn ra ở các trường có khoa Việt Nam học,mà ở cả các trường đại học hàng đầu về khoa học xã hội và nhân văn như trường Đại học chính trị Đài Loan. Những buổi báo cáo như vậy có nhiều người đến nghe, trao đổi thắng thắn giữa diễn giả và đông đảo cử tọa,như là một minh chứng cho sự quan tâm đến những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam. Mặt khác, hàng năm có hàng trăm người nước ngoài theo học bậc đại học, hàng chục người học sau đại học và hơn 6-700 lượt người theo học các lớp ngắn hạn về tiếng Việt, về văn hóa lịch sử tại trường ĐHKHXH&NV, cho thấy một lượng rất đông đảo người nước ngoài có nhu cầu muốn hiểu biết về Việt Nam. Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động của một đơn vị đào tạo và nghiên cứu các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, chúng tôi thấy về phía Trường ĐH KHXH&NV bộc lộ hai hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến sự hợp tác quốc tế và thực tế cũng là những hạn chế ảnh hưởng đến sự hội nhập. Đó là những khó khăn về nguồn lực con người và nguồn lực tài chính.
Hạn chế về nguồn lực con người thì ai cũng thấy. Nguồn nhân lực trong đào tạo và nghiên cứu các ngành khoa học và công nghệ nói chung,khoa học xã hội và nhân văn nói riêng,theo chúng tôi có hai nguồn chính:a) lực lượng chủ đạo là các cán bộ đang công tác trong các viện nghiên cứu và các trường đại học và b) đội ngũ trí thức Việt kiều. Hợp tác quốc tế của bất kỳ một đơn vị đào tạo và nghiên cứu nào cũng phải đến từ hai phía-phía Việt Nam và phía nước ngoài. Lâu nay, trong tư duy của chúng ta tồn tại một cách nghĩ là chỉ có “nhận”, mà không nghĩ đến “cho” trong hợp tác quốc tế. Chính vì vậy chúng ta không thể chủ động trong hợp tác quốc tế. Đội ngũ có trình độ chuyên môn cao ở các trường hiện nay thiếu,độ tuổi trung bình cao,lại phân bố không đều giữa các ngành trong một khoa và giữa các khoa với nhau.Nhiệm vụ của các giáo viên trong một đơn vị đào tạo là giảng dạy. Trong trường các giáo viên chủ yếu lo dạy cho đủ giờ đã quy định, mà không quan tâm đến việc phải làm gì để có thể hợp tác với các đối tác nước ngoài khi điều kiện có như nâng cao năng lực chuyên môn, học cho tốt một ngoại ngữ. Vì hạn chế ngoại ngữ, cho nên khi triển khai các hợp tác quốc tế, sẽ rất khó khăn cho việc huy động nguồn lực. Thực tế trong nhiều năm qua, các học bổng du học nhiều, nhưng lại rất khó khăn tìm kiếm ứng viên. Tìm kiếm ứng viên cho các học bổng du học gặp nhiều khó khăn cũng còn do cơ chế của chúng ta. . Chúng ta có những quy định về năm công tác, phải là cán bộ thuộc biên chế của trường, v. v. . trong khi chúng ta lại chưa tạo điều kiện cho cán bộ có thể tập trung cho việc nâng cao trình độ ngọai ngữ. Vì vậy, khi có những dự án, những chương trình hợp tác với nước ngoài tìm ứng viên là rất khó khăn. Năng lực của cán bộ ngoài khả năng ngoại ngữ là rất cần, còn phải có một trình độ chuyên môn nhất định và khả năng tập hợp, tổ chức để triển khai thực hiện các dự án hợp tác. Trong thực tế hoạt động của nhà trường trong nhiều năm qua là chỉ có một số đơn vị và cá nhân có thể đáp ứng được các yêu cầu của hợp tác quốc tế. Khó có thể nói đến hiệu quả của hợp tác quốc tế, khi đội ngũ của chúng ta chưa đủ mạnh để tham gia cùng các đối tác nước ngoài trong quá trình triển khai dự án. Do hạn chế về ngoại ngữ đã làm cho cán bộ của chúng ta thiếu tự tin trong các hoạt động hợp tác quốc tế. Mặt khác, cũng do ứng xử của các cơ quan chức năng đối với người nước ngoài chưa thật cởi mở, nhất là những năm 80-90 của thế kỷ trước, cũng góp phần hạn chế những hoạt động hợp tác đối ngoại.Chúng ta cũng chưa khai thác có hiệu quả tiềm lực đội ngũ trí thức Việt Nam đang định cư ở nước ngoài. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là rất rõ ràng và luôn coi họ là một bộ phận không thể tách rời.Văn liện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh”Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam;Nhà nước ban hành các cơ chế,chính sách để hỗ trợ,giúp đỡ đồng bào ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,hướng về Tổ quốc”(11). Đội ngũ trí thức người Việt Nam định cư ở nước ngoài
11Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI,Nxb,Chính trị quốc vực gia,H.2011,trg,31.
là khả năng đông đảo. trong đó có nhiều người thành đạt, có uy tín khoa học. Trong lĩnh vực kinh tế, với chính sách cởi mở,chúng ta đã thu hút được sự quan tâm của Việt kiều.Hiện nay có tới 3500 dự án,với kinh phí trên 11 tỷ USD của Việt kiều đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau,làm tăng thêm nguồn lực để phát triển.Trong lĩnh vực khoa học công nghệ,nhất là khoa học xã hội và nhân văn,do nhiều nguyên nhân khác nhau,chúng ta chưa tập hợp cũng như khai thác có hiệu quả nguồn lực này.Cũng có một số nhà khoa học triển khai nghiên cứu các lĩnh vực khoa học xã hội,nhưng chưa nhiều.Không khai thác hiệu quả tiềm năng này,chúng ta đã lãng phí một nguồn lực khá. Chúng ta chưa có những triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học ngoài nước cũng một phần thiếu những cán bộ có đủ điều kiện để triển khai các hoạt động nghiên cứu ở ngoài nước (cũng có thể chúng không có truyền thống?). Có những NCS khi triển khai thực hiện viết luận án,mà nội dung có liên quan đến nước ngoài,nhưng cũng không có kinh phí để có thể đến địa bàn nghiên cứu.Không đi thực địa tại các địa bàn nghiên cứu,khó có thể nói luận án có chất lượng.Trong khi đó,những nghiên cứu sinh người nước ngoài,khi nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến Việt Nam,họ đến Việt Nam nhiều lần.lại được hỗ trợ của các nhà chuyên môn.Thực tế chúng ta cũng có chủ động triển khai các dự án hợp tác trong lĩnh vực giáo dục y tế với một số nước ở châu Phi, nhưng chủ yếu dưới hình thức chuyên gia, mà không phải là những nghiên cứu ứng dụng. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải làm sao đào tạo được một đội ngũ các nhà khoa học vững về chuyên môn, giỏi về ngoại ngữ đủ năng lực tổ chức và triển khai các hoạt động nghiên cứu và đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, không chỉ ở trong nước, mà cả ở nước ngoài. Những hoạt động nghiên cứu và đào tạo này, không chỉ dựa trên tài trợ của các đối tác nước ngoài, mà còn do nguồn kinh phí của nhà nước ta hoặc của các nhà tài trợ của các tổ chức chính trị, xã hội khác.
Hạn chế về nguồn lực tài chính cũng là một rào cản trong hội nhập. Do cách suy nghĩ của chúng ta lâu nay là một khi triển khai một dự án có yếu tố nước ngoài chủ yếu dựa vào nguồn tài chính của các đối tác. Trường đại học chỉ có kinh phí cho hoạt động thường xuyên, còn kinh cho hoạt động đối ngoại (kinh phí cho đoàn ra, đoàn vào) là hết sức hạn chế. Kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học cũng rất khiêm tốn. Chính vì vậy, khó có thể triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả được. Thiếu kinh phí, chúng ta khó có thể chủ động trong hợp tác nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Trong hội nhập kinh tế chúng ta có nhiều kinh nghiệm. Ở giai đoạn đầu của qúa trình hội nhập chúng ta tiếp nhận nguồn đầu tư từ nước ngoài. Tuy vậy, kinh phí đầu tư cho các dự án đó không thuần túy chỉ có từ bên ngoài, mà thực tế chúng ta cũng đã có vốn đối ứng (đất đai, nhân công…). Càng về sau, khi nền kinh tế của chúng ta đã dần ổn định và phát triển, một mặt chúng ta vẫn khuyến khích các nước đầu tư vào những lĩnh vực mà chúng ta chưa có hoặc chưa mạnh, nhưng mặt khác, chúng ta lại đầu tư ra nước ngoài. Đến nay chúng ta có nhiều dự án được đầu tư ra nước ngòai mang lại không chỉ lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích khác. Một nền kinh tế không đủ mạnh, thì khó có thể nói đến đầu tư ra ngước ngoài. Trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, nhất là các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, theo chúng tôi, cũng phải thay đổi tư duy trong hợp tác nghiên cứu. Phải bình đẳng trong đầu tư nghiên cứu, mới có bình đẳng trong thụ hưởng những thành quả nghiên cứu. Không thể duy trì mãi tình trạng xin kinh phí của các tổ chức nước ngoài cho nghiên cứu khoa học.Phải chủ động đầu tư trong nghiên cứu khoa học. Chúng ta chỉ có thể chủ động trong nghiên cứu, khi chúng ta chủ động về nguồn lực tài chính ( đương nhiên cả nguồn lực con người). Trong các Hội thảo quốc tế về Việt Nam học, Ban tổ chức chủ động nội dung, chương trình, mời các học giả trong và ngoài nước tham dự. Để có thể chủ động được như vậy Ban tổ chức có nguồn kinh phí đảm bảo cho các hoạt động trong suốt thời gian diễn ra Hội thảo và cho cả xuất bản phẩm sau Hội thảo. Cuộc Hội thảo quốc tế “Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: cách tiếp cận nhân học” được tiến hành khá tốt với sự tham gia của gần 150 các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, như là một thí dụ nữa về sự chủ động kinh phí trong hoạt động nghiên cứu khoa học với đối tác nước ngoài. Hợp tác đối ngoại phải thể hiện sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Do chúng ta thiếu nguồn kinh phí, nên chúng ta khó có thể triển khai các nghiên cứu ở nước ngoài, như họ đã từng tổ chức triển khai nghiên cứu ở nước ta. Khi chúng tôi tham gia Dự án Việt Nam-Canada, chúng tôi co điều kiện dến các vùng nông thôn của Thái Lan, Malaixia và cả Canada để tiếp cận các cộng đồng đói nghèo ở các quốc gia đó. Có tiếp xúc với các cộng đồng đói nghèo tại các quốc gia có sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế, xã hội mới có thể hiểu và đánh gía khách quan hơn, đầy đủ hơn vấn đề đói nghèo không phải chỉ là những vấn đề của các nước đang phát triển, mà ngay cả ở những nước phát triển đói nghèo cũng là một vấn đề nan giải. Đói nghèo là vấn đề của thời đại. Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng phài thay đổi tư duy trong hợp tác quốc tế. Đã đến lúc chúng ta phải mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (lĩnh vực chúng ta có nhiều lợi thế). Nghiên cứu các mô hình phát triển xã hội ở nước ngoài phải để cho các nhà nghiên cứu được sống trong môi trường văn hóa đó. Muốn vậy phải đầu tư lớn và lâu dài. Không có kinh phí chúng ta không chủ động trong các hợp tác nghiên cứu ở nước ngoài. Chúng ta có tổ chức đi nghiên cứu ở nước ngoài, nhưng thường theo đoàn, thời gian lại ngắn, nên hiệu quả không cao. Các nghiên cứu của nước ngoài được triển khai ở Việt Nam thường là dài ngày,lặp đi,lặp lai tại một địa bàn, có sự tham gia của các chuyên gia, nên kết quả nghiên cứu là rất thiết thực, bổ ích. Để hội nhập và hợp tác quốc tế, một vấn đề theo chúng tôi cũng rất cần được quan tâm, . Đó là cần phải lắng nghe ý kiến “trái chiều”. Vẫn biết, khoa học xã hội và nhân văn bao giờ cũng gắn liền với lợi ích quốc gia-dân tộc. Nhưng một ý kiến “trái chiếu” của một học giả nước ngoài về một vấn đề nào đó, thiết nghĩ cũng rất có ích, khi đất nước ta đang muốn là bạn với mọi quốc gia trên thế giới. Khoa học nói chung và nhất là khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, với tính đặc thù của mình sẽ là hoàn thiện hơn khi chúng ta lắng nghe từ nhiều phía. Cùng với hội nhập kinh tế, chúng ta bước đầu đã hội nhập trong lĩnh vực giáo dục. Bằng việc triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ và tham gia kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn AUN, mặc dù chỉ là bước đầu, nhưng giáo dục đại học đã có bước hội nhập vào dòng chảy của khu vực. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn tiềm năng của chúng ta là rất lớn, khai thác hiệu quả tiềm năng này, chắc chắn sẽ tạo những tiền đề vững chắc để chúng ta hội nhập trong những năm tới. Muốn làm được điều đó phải thay đổi trong đầu tư kinh phí cho các hoạt động hợp tác với các đối tác nước ngoài. Nhà trường khó có thể huy động nguồn kinh phí của mình cho những hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, như các quỹ quốc tế từng tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Ở đây vai trò của Nhà nước là rất lớn. Hiện nay Qũy phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đã đi vào hoạt động. Các nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng được Qũy hộ trợ kinh phí cho các nghiên cứu. Do chưa có những tiền lệ cho các tài trợ nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở nước ngoài, nên không có những đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đề nghị tái trợ. Mặt khác, cũng có thể do Qũy mới đi vào hoạt động, nên nhiều cá nhân và tổ chức chưa biệt nên chưa đề xuất tài trợ. Chúng tôi hy vọng trong tương lai, Qũy phát triển khoa học công nghệ quốc gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính cho các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn được triển khai ở nước ngoài. Toàn cầu hóa như là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Chúng ta đã và đang hội nhập vào đời sống kinh tế, chính trị thế giới. Thực tế chúng ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với những bước đi khá vững chắc. Chúng ta cũng đã bước đầu hội nhập trong lĩnh vực giáo dục. mặc dù còn rất nhều khó khăn. Vậy trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn thì sao? Trước hết, phải khẳng định chúng ta muốn phát triển, chúng ta phải hội nhập vào dòng chảy chung của nhân loại. Trong tiến trình phát triển của mình, như là một quy luật chung, những gì một tộc người (Ethnie), dân tộc (Nation) (một quốc gia-dân tộc-Nation-État) tiếp nhận được của tộc người khác,dân tộc khác trong quá trình giao lưu văn hóa thường ít hơn những gì mà tộc người hay dân tộc sáng tạo ra ( thí dụ trong tiếng Việt có tới 70 % từ gốc Hán, tiếng Hàn cũng có một tình hình tương tự, nhiều tộc người tiếp nhận tôn giáo của các tộc người khác,nhiều tộc người tiếp nhận ngôn ngữ của tộc người khác làm tiếng nói của mình như nhiều tộc người ở Nam Mỹ tiếp nhận tiếng Tây Ban Nha. . ). Những giá trị chung của nhân loại về khoa học xã hội và nhân văn sẽ giúp cho mọi quốc gia-dân tộc gần lại với nhau. Chúng ta muốn phát triển, như phát triển kinh tế, chúng ta không thể khép mình trong không gian hẹp, mà phải vươn ra xa. Hội nhập là xu thế tất yếu. Muốn hội nhập, theo chúng tôi nghĩ, chúng ta có nhiều việc phải làm. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ngoài những vấn đề có tính nguyên tắc (các nghiên không làm phương hại đến an ninh quốc gia, không tạo nên bất ổn xã hội…), chúng ta phải đầu tư để làm sao trong một thời gian ngắn có được một đội ngũ các nhà khoa học đủ mạnh về chuyên môn, có ngoại ngữ giỏi và năng lực tổ chức triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Cùng với việc xây dựng đội ngũ đủ mạnh là đầu tư kinh phí. Chúng ta không có những quỹ lớn như Qũy Ford (Mỹ), Qũy Toyota (Nhật Bản) hay Qũy CIDA (Canada) đủ sức tài trợ cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam hiện nay, theo chúng tôi, trong tương lai Quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia sẽ đóng vai trò rất lớn trong việc huy động nguồn lực tài chính cho các nghiên cứu quốc tế (ở nước ngoài) thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn với nòng cốt là các học giả Việt Nam với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài. Làm được việc này, là chúng ta đã chủ động hội nhập trong nghiên cứu, không chỉ ở khía cạnh đội ngũ, mà quan trọng hơn ở khía cạnh chủ động kinh phí cho những hoạt động nghiên cứu đó.Mặt khác,làm sao để các doanh nghiệp cùng chia sẻ với Nhà nước trong việc huy động nguồn lực tài chính cho nghiên cứu khoa học.Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,nhấn mạnh đến “tăng đầu tư nhà nước cho các trọng điểm quốc gia,đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa,huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học,công nghệ”12. Như vậy,chủ trương xã hội hóa trong việc huy động nguồn lực cho nghiên cứu khoa học đã rất rõ.Trong lĩnh vực giáo dục,việc hình thành hệ thống các trường ngoài công lập đã chia sẻ khó khăn của nhà nước trong việc huy động nguồn lực xã hội,góp phần tích cực cho giáo dục đại học Việt Nam phát triển.Việc huy động nguồn lực của các doanh nghiệp cho nghiên cứu khoa học,nhất là khoa học xã hội và nhân văn,tuy không dễ dàng.Nhưng nếu có một cơ chế,tạo niềm tin cho doanh nghiệp,chúng tôi nghĩ cũng sẽ huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Ngoài ra,việc huy động nguồn lực của đội ngũ trí thức Việt kiều cũng sẽ tạo dựng được một nguồn lực tài chính nhất định.Trong lĩnh vực kinh tế,3500 dự án,với các quy mô khác nhau,kinh phí đầu tư trên 11 tỷ USD, đã nói lên sức mạnh kinh tế của Việt kiều.Trong nghiên cứu khoa học,nhất là khoa học xã hội và nhân văn, khó có thể huy động nguồn kinh phí như các dự án trong lĩnh vực kinh tế.Nhưng nếu chúng ta đánh thức được tiềm lực vốn xã hội của đội ngũ trí thức Việt kiều,chắc chắn sẽ có những chuyển biến trong việc huy động nguồn lực tài chính cho nghiên cứu khoa học.Nhiều hoạt động hợp tác với nước ngoài của trường ĐH KHXH&NV trong những năm qua,có được tài trợ của các tổ chức nước ngoài như Qũy Ford,Qũy Toyota…là nhờ vào sự vận động hành lang cũng như uy tín khoa học của các Việt kiều.
12) Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,sđd,trg,42.
Như vậy có thể thấy trong bối cảnh hiện nay, khi toàn cầu hóa như là một xu thế của phát triển, thì không có một quốc gia nào muốn phát triển lại đứng ngoài dòng chảy đó. Hội nhập để phát triển đòi hỏi chúng ta phải có nguồn lực con người và nguồn lực tài chính. Không thể duy trì cách làm cũ trong hợp tác nghiên cứu khoa học nói chung,cũng có nghĩa chúng ta phải thay đổi tư duy và cách làm trong hợp tác quốc tế các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.Nhà nước phải mạnh dạn đầu tư,mặt khác, phải huy động được nguồn lực của các doanh nghiệp,của các tổ chức nước ngoài,của Việt kiều cho nghiên cứu khoa học. Làm sao kết hợp hài hòa sức mạnh trong và ngoài nước cho các nghiên cứu. Có làm như vậy mới mang lại những hiệu quả chung trong nghiên cứu khoa học góp phần làm phong phú tri thức nhân loại. Không đổi mới tư duy và cách thức đầu tư cho nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, khó có thể tạo nên động lực của phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước cũng như những vấn đề của toàn cầu hóa,đang đặt ra những vấn đề bức xúc cần được nghiên cứu giải quyết. Là một bộ phận hợp thành nền khoa học Việt Nam, khoa học xã hội và nhân văn nước ta cần khắc phục những hạn chế, yếu kém,mở rộng sự hợp tác, để trong thời gian ngắn chúng ta thực sự xây dựng một nền khoa học xã hội và nhân văn hiện đại phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.



Tài liệu tham khảo
1.ĐHQG-HCM,Phát huy sức mạnh hệ thống,Chuẩn hóa và hội nhập-Liên thong và phát triển-Tự chủ và liên kết,(Báo cáo phục vụ buổi thăm và làm việc của Gs,Ts,Nguyễn Thị Doan,Phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,tại ĐQG-HCM,NGÀY 12/10/2011),Thành phố Hồ Chí minh ngày 12 tháng 10 năm 2011. 2.Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quôc lần thứ III,Nxb,Sự thật,H. 1960.
3.Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ Đổi mới ( VI;VII,VIII,IX,X),Phần I và Phần II,Nxb,Chính tri quốc gia,h\H.2010.
4.Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb,Chính trị quốc gia,H.2011.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.